Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HS-ST

Ngày: 04/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Bích Liên;
  2. Ông Nguyễn Quốc Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2023/HSST ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 373/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tuấn N, thường gọi là Đ; giới tính: N1, sinh năm 1979, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G, đường H, tổ B, khu phố C, phường P, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Thợ hồ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không rõ; con bà Trần Thị M, sinh năm 1956; anh, chị, em ruột: Không; Vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/6/2023 - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Em Huỳnh Ngọc T; sinh năm 2007 - Địa chỉ: 15/32/25 V, phường B, Quận B. Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn T1 và bà Nguyễn Thị V - Địa chỉ: 15/32/25 V, phường B, Quận B. Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Ngọc S, sinh năm: 1974 - Địa chỉ: A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 02/01/2023, Lê Tuấn N điều khiển xe môtô biển số 59C1-17626 đi từ Khu công nghiệp L đến đường N, xã L, huyện N. N điều khiển xe môtô rẽ trái vào đường N, thuộc xã L, huyện N đi về xã N, huyện N thì phát hiện em Huỳnh Ngọc T (sinh ngày 04/4/2007) điều khiển xe môtô biển số 59L1-218.89 lưu thông phía trước cùng chiều với N. Khi đi đến trước trụ điện số T, đường N, ấp C, xã L, huyện N, N phát hiện tại hộc xe môtô bên trái của em T có để 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng màu hồng. Thấy vậy, N điều khiển xe môtô chạy áp sát vào xe môtô của em T và dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động trên của em T, rồi N quay đầu xe lại chạy về hướng N ra đường N về Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường điều khiển xe môtô về nhà trọ của bạn gái N là chị Ngô Thị Anh Đ1, N gặp người bạn tên là H (không rõ nhân thân, lai lịch) nên N nhờ H bẻ hộ khóa Icloud của chiếc điện thoại di động mà N cướp giật được. Bẻ khóa điện thoại xong, N về nhà trọ của chị Đ1 (tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An) và nói với chị Đ1 là N vừa mới nhặt được chiếc điện thoại di động di động Iphone 6S Plus, màu hồng. Thấy vậy, chị Đ1 đã mượn chiếc điện thoại di động trên và đăng nhập Icloud của chị Đ1 để sử dụng. Đến sáng ngày 03/01/2023, N rủ chị Đ1 đi cầm cố chiếc điện thoại trên tại tiệm C (địa chỉ: Số A, đường H, phường P, Quận G, do anh Đỗ Ngọc S làm chủ). N vào tiệm cầm chiếc điện thoại trên cho anh Đỗ Ngọc S với số tiền 800.000 đồng, còn chị Đ1 thì đứng đợi ở bên ngoài tiệm chờ. Sau khi anh S kiểm tra điện thoại, anh S yêu cầu Ngọc thoát đăng nhập Icloud của chiếc điện thoại trên nên N gọi chị Đ1 vào để chị Đào t đăng nhập Icloud mà chị Đ1 đã đăng nhập trước đó để cầm chiếc điện thoại di động trên. Trên đường đi về, N nói với Đ1 là cầm điện thoại trên với số tiền 800.000đ, nhưng không chia tiền cho Đ1, rồi N chở Đ1 về lại phòng trọ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Lê Tuấn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTTHS ngày 02/02/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N (BL36), kết luận:

  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus, màu hồng, mua cũ vào đầu năm 2022, tình trạng đã qua sử dụng được định giá là 2.000.000₫.
  • + 01 ốp lưng điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus, màu hồng, tình trạng đã qua sử dụng. Do không rõ nhãn hiệu và đã qua sử dụng nên Hội đồng không thể định giá.

Hội đồng thống nhất định giá tài sản trên là 2.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng màu hồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại cho em Huỳnh Ngọc T là chủ sở hữu hợp pháp (BL 182).
  • - 01 chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26, do Lê Tuấn N sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Qua xác minh do chị Lưu Nguyễn Băng T2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Chị T2 đã bán chiếc xe trên cho một người không rõ nhân thân, lai lịch. Bà Nguyễn Thị H1 là dì ruột của N khai mua chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26 tại cửa hàng X, số A, đường H, khu phố C, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (có giấy tờ mua bán, nhưng chưa làm thủ tục sang tên). Việc N sử dụng chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26 làm phương tiện đi cướp giật tài sản thì bà H1 hoàn toàn không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại chiếc xe môtô trên cho bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp (BL 199).

Về dân sự: Bị hại là em Huỳnh Ngọc T đã nhận lại tài sản, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm và đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc S không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số: 73/CT-VKS.NB ngày 18/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Lê Tuấn N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, g Khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn N từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (tháng) tù.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản, quá trình điều tra không có yêu cầu gì, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 02/01/2023, tại trước trụ điện số T14P, đường N, ấp C, xã L, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Tuấn N đã thực hiện hành vi sử dụng xe máy, nhanh chóng bất ngờ cướp giật chiếm đoạt 01 điện thoại hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng màu hồng đang để bên trái hộc xe môtô của em Huỳnh Ngoc T3, em T3 sinh năm 2007. Tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị 2.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, rất nghiêm trọng, chỉ vì mục đích tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động. Hành vi vừa điều khiển xe máy vừa cướp giật tài sản của người khác, sau đó nhanh chóng tẩu thoát khỏi sự truy đuổi là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội, an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Đối với chị Ngô Thị Anh Đ1 là người cùng Lê Tuấn N đi cầm cố chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng bằng nhựa, màu hồng và anh Đỗ Ngọc S là người nhận cầm cố chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng bằng nhựa, màu hồng. Tuy nhiên, chị Đ1 và anh S hoàn toàn không biết chiếc điện thoại di động nói trên là tài sản do Lê Tuấn N phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với chị Ngô Thị Anh Đ1 và anh Đỗ Ngọc S.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Tuấn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đồng thời bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng màu hồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại cho em Huỳnh Ngọc T là chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26, do Lê Tuấn N sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Bà Nguyễn Thị H1 là dì ruột của N khai mua chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26 tại cửa hàng X, số A, đường H, khu phố C, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (có giấy tờ mua bán, nhưng chưa làm thủ tục sang tên). Việc N sử dụng chiếc xe môtô biển số 59C1-176.26 làm phương tiện đi cướp giật tài sản thì bà H1 hoàn toàn không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại chiếc xe môtô trên cho bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Em Huỳnh Ngọc T đã nhận lại chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu hồng, có gắn ốp lưng màu hồng. Em Huỳnh Ngọc T cùng người giám hộ là cha mẹ không yêu cầu bồi thường gì thêm và đều xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử Lê Tuấn N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Anh Đỗ Ngọc S không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Số tiền 800.000 đồng bị cáo thu được khi cầm cố chiếc điện thoại di động Iphone 6S Plus của bị hại tại tiệm cầm đồ M của ông Đỗ Ngọc S là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có. Ông S không có yêu cầu N hoàn trả số tiền này, do đó bị cáo có nghĩa vụ nộp lại số tiền 800.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  1. Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Tuấn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.
  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Buộc bị cáo nộp lại 800.000 đồng thu lợi bất chính sung vào công quỹ nhà nước.
  3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - Công an huyện Nhà Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Nhà Bè;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 71/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger