|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 71/2025/HSPT Ngày: 30/06/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Bùi Thái Hùng. |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Trần Minh Bắc. Ông Hoàng Trí Thức. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/HSPT ngày 12/5/2025 đối với bị cáo Nguyễn Quang T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Quang T, sinh năm 1992 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Phan T1, sinh năm 1965 và bà Võ Thị Lệ T2, sinh năm: 1968; vợ Đặng Thị Linh H, sinh năm 1992; con: 01 con sinh năm 2023;
Tiền sự: không; tiền án: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 10/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã Đá Bạc, Đội quản lý thị trường số D kiểm tra tại nhà của Nguyễn Quang T, tại thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện T có hành vi buôn bán sản phẩm nón S (N là giả). Tang vật thu giữ gồm: 2.238 cái nón (Gồm 12 mã sản phẩm là MC230, MC163A, MC 169B, MC001A, MC169A, MC234, MC197, MC158A, MC122C, MC212, MC237, MC001); 4,5kg tem của Công ty TNHH T4; 42 chai xịt màu đen nhãn hiệu Aroma Care Spray (Có lô gô của Công ty TNHH T4); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax có số IMEI 354692271594604.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang T khai nhận: Khoảng tháng 11/2019, Nguyễn Quang T học bán hàng online qua mạng xã hội thì quen biết với một người tên “T3” (Không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Tín hỏi T3 có hàng gì bán được không thì được T3 giới thiệu sản phẩm nón giả thương hiệu “Nón Sơn” của Công ty trách nhiệm hữu hạn T4. T3 nói hiện có lô hàng khoảng hơn 1000 cặp (01 cặp có 02 nón), 42 chai xịt màu đen nhãn hiệu Aroma C, khoảng 4,5kg tem giả của Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 với giá 20.000.000 đồng cho toàn bộ lô hàng; T đồng ý mua. Sau đó, T3 giao hàng cho T tại Bến xe A, thành phố Hồ Chí Minh rồi Tín thuê xe chở về nhà tại thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để cất giấu. Cuối năm 2019, T nghỉ việc tại thành phố Hồ Chí Minh về nhà sinh sống. Do thời gian này bất động sản đang có giá nên T không bán số nón giả trên mà đi làm môi giới bất động sản kiếm tiền. Khoảng tháng 11/2023, T lập trang mạng xã hội F lấy tên tài khoản “Ái M - Tổ N”, lấy địa chỉ ở 4 L, thị trấn H, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh và cung cấp số điện thoại liên lạc là 0372.109.xxx. Để quảng cáo cho các sản phẩm nón sơn giả của mình, T lên mạng xã hội Facebook thuê người lồng tiếng theo kịch bản do T soạn sẵn rồi dùng bản ghi âm của người lồng tiếng ghép vào video do T tự quay và đăng lên tài khoản “Ái My - Tổ N Buôn S” kèm theo giá cho từng sản phẩm nón sơn giả. Đồng thời, T đưa ra các thông tin giảm giá để thu hút khách hàng. Khi người mua đặt hàng thì T lấy tem giả thương hiệu Nón Sơn có ghi mã vạch do T3 cung cấp gắn vào nón giả nhằm tạo thêm độ tin cậy cho sản phẩm. Từ tháng 11/2023 đến khi bị phát hiện, T đã bán và thu tiền thành công được 04 đơn hàng với số tiền 1.400.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 1677/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Tem, nhãn mác (giấy, vải) trên 12 mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A12 so với tem, nhãn mác (giấy, vải) trên 12 mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M12 là khác nhau.
- Tem trên mẫu cần giám định ký hiệu A13 so với tem trên mẫu so sánh ký hiệu M13 là khác nhau.
- Tem trên mẫu cần giám định ký hiệu A14 so với tem trên mẫu so sánh ký hiệu M14 là khác nhau”.
Tại Kết luận giám định số 1677/1/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C1 tại TP Hồ Chí Minh kết luận:
“1. Sản phẩm nón của các mẫu cần giám định có thành phần hoá học khác sản phẩm nón của mẫu so sánh cùng loại tương ứng.
Chất trong chai xịt AROMA CARE SPRAY của các mẫu giám định có thành phần hoá học khác chất trong chai xịt AROMA CARE SPRAY của mẫu so sánh cùng loại tương ứng”.
Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số 25/BB-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: Tổng giá trị tài sản trong vụ buôn bán hàng giả ngày 10/01/2024 là 2.650.950.000 đồng.
Tại Công văn số 07/HĐĐG ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, không thay đổi kết quả định giá tại biên bản số 24/BB-HĐĐGTS về việc họp Hội đồng định giá tài sản huyện C và biên bản số 25/BB-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 về kết luận định giá tài sản tại công văn 1008/YC-ĐCSKT-MT ngày 11/4/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện C. Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C không có cơ sở pháp lý để định giá lại tài sản trong vụ án “Buôn bán hàng giã”.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bồi thường về dân sự gì thêm, đã viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HSST ngày 17/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 192; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Quang T 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 24/3/2025, bị cáo Nguyễn Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Ngày 09/6/2025, bị cáo kháng cáo bổ sung đề nghị xem xét lại tội danh “Buôn bán hàng giả”.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.
Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo từ đó xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:
Vào tháng 11/2019, Nguyễn Quang T mua của T3 (Không rõ họ tên, địa chỉ) một lô hàng các sản phẩm nón, chai xịt giả thương hiệu của Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 với giá 20.000.000 đồng nhằm mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng tháng 11/2023, T lập tài khoản Facebook “Ái M - Tổng Kho Buôn Sỉ L Nón Sơn Cao Cấp” rồi đăng các video giới thiệu sản phẩm giả thương hiệu Nón S để bán cho khách hàng. Khi người mua đặt hàng thì T lấy tem giả thương hiệu Nón S gắn vào nón giả nhằm tạo thêm độ tin cậy cho sản phẩm. Từ tháng 11/2023 đến khi bị phát hiện, T đã bán và thu tiền thành công được 04 đơn hàng với số tiền 1.400.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ ngày 10/01/2024 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã Đá Bạc và Đội quản lý thị trường số D phát hiện và thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Xét thấy, về tố tụng, cấp sơ thẩm xác định tư cách của bị hại chưa phù hợp với quy định của pháp luật bởi lẽ đối tượng bị xâm hại của hành vi “Buôn bán hàng giả” là người trực tiếp mua hàng chứ không phải công ty TNHH T4. Nếu xét xử tội danh này, cấp sơ thẩm phải đưa người đã mua hàng của bị cáo vào tham gia tố tụng với tư cách bị hại mới phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung, đối với lượng hàng hóa là nón vải mà bị cáo mua của đối tượng tên T3 có chức năng, mục đích sử dụng thông thường, hàng ngày tương tự như các loại nón khác như che mưa, che nắng, thời trang ... chứ không có công dụng đặc biệt như mũ bảo hiểm hoặc các mũ chuyên dùng khác nên không có một tiêu chuẩn cụ thể để so sánh sự khác biệt về chất lượng giữa các loại nón. Vì vậy sự giả mạo ở đây là giả mạo về nhãn hiệu, thương hiệu chứ không hẳn là giả mạo về chất liệu hay công năng, mục đích sử dụng.
Bị cáo mua về và lợi dụng thương hiệu nón S để có thể lừa người mua mua hàng của bị cáo. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng lớn đến thương hiệu, hình ảnh, uy tín của Công ty TNHH T4 nên có dấu hiệu của tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng chưa xác minh, làm rõ tại Cục sở hữu trí tuệ về việc thương hiệu Nón Sơn có được bảo hộ tại Việt Nam hay không để xác định chính xác tội danh cho phù hợp. Mặt khác, khi tiến hành định giá, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C chỉ căn cứ vào giá niêm yết các sản phẩm của công ty T4 vào năm 2019 để xác định giá lô hàng của bị cáo đã mua mà không tính toán đến khấu hao tài sản do hao mòn (2024 bị cáo mới đem bán), khấu hao do mất giá trị sử dụng hoặc mẫu mã không còn được ưa chuộng ... để xem xét toàn diện về giá trị của lô hàng cần định giá là không khách quan và gây bất lợi cho bị cáo.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy những lý do nêu trên không thể khắc phục cũng như không thể bổ sung được tại phiên tòa phúc thẩm nên có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 17 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định.
Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa và 02 tội danh “Buôn bán hàng giả” và “Xâm phạm quyền sỡ hữu công nghiệp” chưa được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không có lỗi nhưng cũng nên rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử.
[3] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 355, điểm b Khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T; hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 17 tháng 03 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; giao vụ án lại cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để điều tra lại.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Quang T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thái Hùng |
Bản án số 71/2025/HSPT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về hình sự
- Số bản án: 71/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Tín - Buôn bán hàng giả
