Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HS-ST

Ngày: 26/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.

- Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Nhung và ông Nguyễn Đăng Cường.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Nam Hưng và bà Mai Thị Liên – Đều là Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Văn Đằng (tên gọi khác: Thanh), sinh ngày: 14/4/1978, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ 56, khu 5, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ 1, khu 10 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 05/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Văn Khái (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ước; có vợ là Nguyễn Thị Thu Hường và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/9/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích"; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hằng; sinh ngày: 06/11/1980, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ 2, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Công Kịch (đã chết) và bà Trần Thị Mùi; có chồng là Lương Thế Hà và 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: ngày 21/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt tiền 20.000.000 đồng về tội "Đánh bạc". Ngày 25/12/2024 chấp hành xong bản án;

2

tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

  1. Họ và tên: Trần Văn Hải; sinh ngày: 25/12/1980, tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: thôn Điện Biên, xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện tại: tổ 6, khu 9B, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trần Nam Trung; và bà Nguyễn Thị Mơ; có vợ là Bùi Thị Tĩnh và 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/5/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội "Đánh bạc"; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Trang; sinh ngày: 29/12/1988, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ 4, khu 1, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Tiến Giang và bà Dương Thị Ngân; có chồng (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  3. Họ và tên: Lê Văn Tình; sinh ngày: 27/7/1980, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: thôn 4, xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Văn Khịt và bà Nguyễn Thị Chung; có vợ là Đỗ Thị Năm và 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người làm chứng: anh Doanh Văn Thế, chị Lưu Thị Đẹp, anh Nguyễn Cao Chiến, chị Nông Thị Hương; đều vắng mặt.

* Người chứng kiến: anh Nguyễn Hồng Quảng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/12/2024, Trần Văn Đằng mời Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình, Doanh Văn Thế, Lưu Thị Đẹp,

3

Nguyễn Cao Chiến đến nhà ăn cơm trưa, tất cả đều đồng ý. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Hằng, Trang, Tình, Thế, Chiến đến nhà của Đằng cùng nhau ăn uống. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, chị Lưu Thị Đẹp và Trần Văn Hải lần lượt đến nhà của Đằng chơi. Tại đây, Đằng nảy sinh ý định đánh bạc thắng thua bằng tiền nên rủ mọi người chơi thì có Hằng, Hải, Trang, Tình đồng ý. Đằng lấy bộ tú lơ khơ có sẵn ở bàn uống nước phòng khách, trải thảm và chăn ở giữa phòng khách để đánh bạc bằng hình thức chơi “lốc” cùng Hằng, Hải, Trang, Tình; còn anh Chiến, anh Thế và chị Đẹp ngồi ở bên cạnh xem. Khoảng 30 phút sau, anh Thế đang ngồi xem thì mượn bài của Đằng để so bài với Hải bằng cách lấy 03 quân bài chia đầu tiên trong lượt chia bài rồi so điểm với Hải theo hình thức chơi “liêng”, mức cược là 100.000 đồng/một ván; Thế và Hải chơi một ván thì Thế thua 100.000 đồng cho Hải nên Thế không chơi nữa mà tiếp tục ngồi xem. Khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, Công an phường Bãi Cháy kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc 6.450.000 đồng (gồm 6.100.000 đồng tại các vị trí ngồi tham gia đánh bạc, 350.000 đồng trong lọ nhựa ở bàn uống nước phòng khách), 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 01 thảm và 01 chăn. Ngoài ra, thu giữ của Trần Văn Đằng 01 điện thoại di động Vivo màu xanh và 1.020.000 đồng cất trong người; thu giữ của Nguyễn Thị Thu Hằng 01 điện thoại di động Samsung màu đen và 500.000 đồng cất trong người; thu giữ của Trần Văn Hải 01 điện thoại đi động Samsung màu đen và 1.717.000 đồng cất trong người; thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc Trang 01 điện thoại di động Oppo màu xanh và 1.000.000 đồng cất trong người; thu giữ của Lê Văn Tình 01 điện thoại di động Iphone màu vàng. Quá trình bắt quả tang, anh Doanh Văn Thế, Nguyễn Cao Chiến và chị Lưu Thị Đẹp đang ngồi xem đánh bạc.

Về cách thức đánh bạc “lốc” và “liêng”, các bị cáo và anh Doanh Văn Thế đều khai nhận như sau:

Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài để đánh "lốc". Mỗi người chơi sẽ được chia 10 lá khi bắt đầu ván bài. Ở ván đầu tiên, người giữ quân bài nhỏ nhất trong bàn sẽ được đánh trước. Từ ván thứ 2 trở đi, người về nhất của ván trước sẽ giành được quyền đi đầu. Trong luật chơi Lốc, quân bài lẻ (rác): Là các quân bài đơn lẻ, thứ tự các quân bài là 3, 4, 5, ..., J, Q, K, A, 2, trong đó 3 là quân nhỏ nhất và 2 là quân lớn nhất và không nằm trong bộ nào được kể đến dưới đây. Đôi: Là cặp bao gồm 2 quân bài cùng số. Đôi 3 là đôi nhỏ nhất và đôi 2 là lớn nhất. Sáp: Bộ gồm 3 lá bài cùng số. Sáp 3 là sáp nhỏ nhất và sáp 2 là lớn nhất. Tứ quý: Bộ gồm 4 lá bài cùng số. Tứ 3 là tứ nhỏ nhất và tứ 2 là lớn nhất. Dây (Sảnh): Bộ gồm các quân bài có thứ tự liên tiếp từ 3 lá trở lên, không giới hạn số lượng, độ lớn của dây (sảnh) được tính như sau: Sảnh nhỏ nhất bắt đầu từ A, sảnh lớn, nhất kết thúc bởi A. Ví dụ: A23 < (nhỏ hơn) 234 < 345 <.......< JQK < QKA (không có sảnh KA2). Ăn trắng: Được tính khi người chơi sở hữu bài có: Sảnh 10 lá (Sảnh Rồng). Tứ quý 2. Cả 10 lá bài cùng màu (không cần cùng chất hoàn toàn). 3 sáp cô. 5 đôi. Thứ tự ưu tiên ăn trắng: Sảnh Rồng> (lớn

4

hơn)Tứ quý 2> Cùng màu> 3 sáp cô> 5 đôi. Xin làng (báo, cướp cái): khi người chơi xem bài cảm thấy bài mình về nhất không ai có thể chặn được thì người chơi có thể “Báo” để giành quyền ưu tiên đánh trước. Sau khi “Báo”, người chơi sẽ đánh lần lượt bài của mình xuống. Nếu không ai chặn được các lá bài của người "Báo", sẽ được coi là “Báo” thành công. Nếu bị chặn một trong số những lá bài đánh xuống khi “Báo” thì người giành quyền “Báo” sẽ phải đền làng. Khi có người "Báo" thành công, mỗi người còn lại phải trả cho người "Báo" thành công 300.000 đồng. Người “Báo” thành công sẽ phải góp 50.000 đồng vào 01 chiếc lọ nhựa trên bàn uống nước phòng khách để mọi người ăn tối. Người “Báo” không thành công phải trả cho người “Bắt báo” (là người chặn được một trong số các lá bài mà người “Báo” đánh ra) số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Trong luật chơi Lốc, người đi sau sẽ lần lượt chặn bài người đi trước bằng quân bài/bộ lớn hơn quân bài/bộ mà người đi trước đánh ra. Đôi chặn đôi, sáp chặn sáp, dây (sảnh) chặn dây (sảnh) (sảnh phải lớn hơn và có độ dài bằng sảnh của người đi trước mới có thể chặn). Mỗi tứ quý bất kỳ có thể chặn được một lá 2. Khi đánh ra một quân/bộ mà không có ai trong bàn có thể chặn được, người chơi sẽ giành được quyền tiếp tục đánh đầu tiên cho lượt kế tiếp. Người chiến thắng là người đánh được hết các lá bài trên tay đầu tiên của ván, mỗi ván chỉ có một người chiến thắng, những người còn bài trên tay là người thua cuộc. Mỗi người thua phải trả cho người chiến thắng số tiền 10.000 đồng với mỗi lá bài còn lại trên tay. Người nào còn cầm đủ 10 lá bài trên tay thì bị coi là “Cháy” và phải trả cho người chiến thắng số tiền 200.000 đồng.

Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để chơi “Liêng”, quân bài 10, J, Q, K gọi là đầu người quy ước là 0 điểm khi đứng lẻ một mình, các quân bài còn lại (A,2,3...9) có số điểm tương ứng (1,2,3,...9). Trong trường hợp có 03 quân bài liên tiếp nhau (ví dụ A23, 234,...10JQ, JQK, QKA) thì gọi là “Liêng”. Nếu hai bài có “liêng” thì phải xét bài lớn bé theo thứ tự từ thấp đến cao lần lượt A23, 234,...JQK, QKA. Nếu hai bài có “liêng” bằng nhau thì xét theo chất từ thấp đến cao lần lượt “cơ, rô, bích, tép” và xét đến quân bài tú lơ khơ to nhất trong bộ “liêng”. Nếu không có bài “liêng” thì cộng điểm tính điểm tổng, ai có điểm cao hơn thì thắng (điểm tổng chỉ tính số ở hàng đơn vị, nếu tổng là 10, 20 tính là 0 điểm).

Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như nội dung nêu trên.

Về số tiền đánh bạc và thắng, thua các bị cáo và anh Doanh Văn Thế khai nhận: Trần Văn Đằng bỏ ra 3.270.000 đồng để đánh bạc, bỏ xuống chiếu bạc 2.250.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ trong người 1.020.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi 830.000 đồng, thua bạc 1.420.000 đồng; Nguyễn Thị Thu Hằng bỏ ra 1.700.000 đồng để đánh bạc, bỏ xuống chiếu bạc 1.200.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ trong người 500.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi 670.000 đồng, thua bạc 530.000đồng; Trần Văn Hải bỏ ra 1.717.000 đồng để đánh bạc, khi bắt quả tang thu giữ trong người 1.717.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi 1.650.000 đồng,

5

thắng bạc 1.650.000 đồng; Nguyễn Thị Ngọc Trang bỏ ra 3.000.000 đồng để đánh bạc, bỏ xuống chiếu bạc 2.000.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ trong người 1.000.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi 1.100.000 đồng, thua bạc 900.000 đồng; Lê Văn Tình bỏ xuống chiếu bạc 900.000 đồng để đánh bạc, khi bắt quả tang thu giữ tại vị trí ngồi 1.850.000 đồng, thắng bạc 950.000 đồng. Các bị cáo đều khai nếu thua bạc hết số tiền đã bỏ xuống chiếu bạc thì các bị cáo sẽ tiếp tục bỏ hết số tiền cất trong người để đánh bạc tiếp.

Doanh Văn Thế bỏ ra 100.000 đồng để đánh bạc với Trần Văn Hải dưới hình thức chơi “liêng”, sau khi thua hết Thế ngồi xem và không tham gia đánh bạc với các bị cáo khác.

Về số tiền 350.000 đồng để trong lọ nhựa, các bị cáo khai các bị cáo cùng thống nhất ai “báo bài” thì bỏ vào đó 50.000 đồng góp tiền ăn tối.

Căn cứ kết quả điều tra, xác định tổng số tiền các bị cáo Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 10.687.000 đồng (mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng). Số tiền này, Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Công an thành phố Hạ Long mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh; đối với các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã chuyển nhập kho vật chứng để bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 1490/CT-VKSHL ngày 25 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố: Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự riêng đối với các bị cáo: Tình, Trang. Áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự riêng đối với các bị cáo: Đằng, Hải. Áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự riêng đối với các bị cáo: Đằng, Hải, Hằng, Tình. Xử phạt: Trần Văn Đằng (tên gọi khác:Thanh) từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án; Trần Văn Hải từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án; Nguyễn Thị Thu Hằng từ 06 đến 09 tháng tù; phạt Lê Văn Tình số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc Trang số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.
  • - Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 10.687.000 đồng sung ngân sách nhà nước; tịch thu,

6

tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 lọ nhựa trong suốt kích thước (12x10x21)cm, 01 chiếc chiếu kích thước (195x155)cm màu nâu, 01 chiếc chăn kích thước (195x170)cm màu xanh không có giá trị; trả lại 05 chiếc điện thoại di động thu giữ của 05 bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: các bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: trong quá trình điều tra các bị cáo: Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình khai nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc như nội dung vụ án đã nêu trên; tại phiên tòa các bị cáo khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và khẳng định, lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật; thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi của bị cáo. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, tại phòng khách nhà riêng của Trần Văn Đằng, thuộc tổ 1, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình đã có hành vi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh “Lốc” được thua bằng tiền; Đến 16 giờ 55 phút cùng ngày, Công an phường Bãi Cháy kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.687.000 đồng (mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng).

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng.

Do đó, Hành vi nêu trên của các bị cáo: Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình đã phạm vào tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

Điều 321 của bộ Luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

7

[2] Hành vi phạm tội của các bị là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ tệ nạn cờ bạc là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội. Chính vì thế nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nghiêm cấm, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, nhận thức rõ được hành vi chơi “Lốc” được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhận thức rõ hậu quả của tệ nạn cờ bạc gây ra nhưng do thiếu tu dưỡng rèn luyện lối sống nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục và ngăn chặn tội phạm.

[3] Xét vai trò và tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Đằng là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội đồng thời tham gia đánh bạc nên có vai trò chính, các bị cáo còn lại đều tham gia đánh bạc có vai trò ngang nhau và sau vai trò bị cáo Đằng.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thị Thu Hằng đã bị xét xử về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích, cần áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng, nhưng cũng cần xem xét nhân thân của bị cáo Đằng, Hải khi quyết định hình phạt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét quá trình điều tra và tại phiên toà tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo: Lê Văn Tình, Nguyễn Thị Ngọc Trang phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Tình từ năm 2018 đến năm 2022 đã 05 lần được UBND xã Liên Hoà, chủ tịch UBND xã Liên Hoà tặng Giấy Khen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua tại địa phương; bị cáo Hằng có bố được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo Đằng được chính quyền xác nhận chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật tại địa phương, có vợ là chị Nguyễn Thị Thu Hường không có việc làm ổn định, không có thu nhập, có con gái là Trần Phương Anh (SN 2006) bị bại não do tai nạn giao thông, con nhỏ là cháu Trần Minh Phúc (SN 2019) bị tự kỷ bẩm sinh; bị cáo Trần Văn Hải có gia đình hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, vợ là chị Bùi Thị Tính bị tai nạn lao động mất 02 cánh tay và con gái là Trần Thị Huyền (SN 2019) mắc bệnh tim bẩm sinh, câm - điếc hiện đang hưởng trợ cấp xã hội, là lao động chính. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự riêng đối với các bị cáo: Tình, Trang; áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự riêng đối với các bị cáo: Đằng, Hải, Hằng, Tình.

[6] Xét thấy, các bị cáo: Đằng, Hải tuy đã bị xử phạt tù nhưng đã được xoá án tích, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có hoàn cảnh gia đình như trên, số tiền bỏ ra đánh bạc không lớn, mức độ phạm tội lần

8

này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, thấy không cần thiết bắt các bị cáo Đằng, Hải phải chấp hành hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của gia đình và địa phương nhằm giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với các bị cáo: Tình, Trang có nhân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, số tiền bỏ ra đánh bạc không lớn, mức độ phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tính răn đe giáo dục các bị cáo. Bị cáo Tình có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo Trang nên mức tiền phạt thấp hơn bị cáo Trang.

Về ấn định thời gian thử thách: thời gian thử thách đối với bị cáo Đằng, bị cáo Hải bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm;

[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét các bị cáo: Đằng, Hải, Hằng đều không có công việc và thu nhập ổn định, các bị cáo Tình, Trang đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 10.687.000 đồng, các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 lọ nhựa trong suốt kích thước (12x10x21)cm, 01 chiếc chiếu kích thước (195x155)cm màu nâu, 01 chiếc chăn kích thước (195x170)cm màu xanh, không có giá trị, cần tịch thu, tiêu hủy;
  • - 05 chiếc điện thoại di động thu giữ của 05 bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại các bị cáo.

[9] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hạ Long, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[10] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa các bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh,

9

khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[13] Liên quan trong vụ án có Doanh Văn Thế tham gia đánh bạc nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an thành phố Hạ Long đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố:

- Các bị cáo: Trần Văn Đằng (tên gọi khác: Thanh) Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình phạm tội “đánh bạc".

* Tuyên xử:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự

- Xử phạt: Trần Văn Đằng (tên gọi khác; Thanh) 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao Trần Văn Đằng cho Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

+ Xử phạt: Trần Văn Hải 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao Trần Văn Hải cho Ủy ban nhân dân xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản

10

án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự

- Xử phạt: Nguyễn Thị Thu Hằng 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam: từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Lê Văn Tình 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Nguyễn Thị Ngọc Trang 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước

5. Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 10.687.000 đồng (mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng) (theo Phiếu nhập kho tại Kho bạc Nhà nước Quảng Ninh ngày 09/01/2025).
  • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 lọ nhựa trong suốt kích thước (12x10x21)cm, 01 chiếc chiếu kích thước (195x155)cm màu nâu, 01 chiếc chăn kích thước (195x170)cm màu xanh;
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Thu Hằng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen kèm 01 sim điện thoại.
  • - Trả lại bị cáo Lê Văn Tình 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 12 Promax), màu vàng kèm 01 sim điện thoai.
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Trang 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh kèm 01 sim điện thoại.
  • - Trả lại bị cáo Trần Văn Hải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen kèm 01 sim điện thoại.
  • - Trả lại bị cáo Trần Văn Đằng (tên gọi khác: Thanh) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh kèm 01 sim điện thoại.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 126/BB-THA ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban

11

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Căn cứ khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Cơ quan điều tra Công an tỉnh QN;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh QN;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS+THA+VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

13

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi..........giờ..........phút, ngày.....tháng.....năm 2025;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố hạ Long

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông (Bà).................................................

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:.../2025/TLST-HS ngày...tháng...năm 2025 đối với:

  1. Bị cáo Trần Văn Đằng ( Tên gọi khác là : Thanh) sinh ngày: 14/4/1978, tại Quảng Ninh;
  2. Bị cáo Nguyễn Thị Thu Hằng; sinh ngày: 06/11/1980, tại Quảng Ninh;
  3. Bị cáo Trần Văn Hải; sinh ngày: 25/12/1980, tại Thái Bình;
  4. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Trang; sinh ngày: 29/12/1988, tại Quảng Ninh;
  5. Bị cáo Lê Văn Tình; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/7/1980, tại Quảng Ninh;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hạ Long, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

[2] Về tội danh:

Đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình phạm tội “Đánh bạc”. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

[3] Về áp dụng điều luật:

1. Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

14

Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đằng ................. tháng tù, tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Phạt bị cáo Trần Văn Đằng 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

2. Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu Hằng ................. tháng tù, tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu Hằng 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

3. Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Hải ................. tháng tù, tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi những ngày tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Phạt bị cáo Trần Văn Hải 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

4. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Trang ................. tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách ............................ kể từ ngày tuyên án; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

5. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321;khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Tình ................. tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách ............................ kể từ ngày tuyên án; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Trong trường hợp người được hưởng án treo (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

15

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

[5] Về những vấn đề khác:

Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Tịch Thu 10.687.000 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng) để sung quỹ ành nước. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Tịch thu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 lọ nhựa trong suốt kích thước (12x10x21)cm, 01 chiếc chiếu kích thước (195x155)cm màu nâu, 01 chiếc chăn kích thước (195x170)cm màu xanh, để tiêu hủy. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Buộc các bị cáo Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình, mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý;

Báo để các bị cáo biết có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Nghị án kết thúc vào hồi.......giờ......phút, ngày.....tháng.....năm 2025

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

Trần Thị Hồng

16

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1490/CT-VKSHL

Hạ Long, ngày 25 tháng 02 năm 2025

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long, về tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Quyết định khởi tố bị can số 01, 02, 03, 04, 05 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long, đối với: Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình, về tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Bản kết luận điều tra số 35 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long,

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình, Doanh Văn Thế, Lưu Thị Đẹp, Nguyễn Cao Chiến có mối quan hệ quen biết với Trần Văn Đằng. Sáng ngày 24/12/2024, Trần Văn Đằng mời Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình, Doanh Văn Thế, Lưu Thị Đẹp, Nguyễn Cao Chiến đến nhà ăn cơm trưa, tất cả đều đồng ý. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Hằng, Trang, Tình, Thế, Chiến đến nhà của Đằng cùng nhau ăn uống. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, chị Lưu Thị Đẹp và Trần Văn Hải lần lượt đến nhà của Đằng chơi. Tại đây, Đằng nảy sinh ý định đánh bạc thắng thua bằng tiền nên rủ mọi người chơi thì có Hằng, Hải, Trang, Tình đồng ý. Đằng lấy bộ tú lơ khơ có sẵn ở bàn uống nước phòng khách, trải thảm và chăn ở giữa phòng khách để đánh bạc bằng hình thức chơi “lốc” cùng Hằng, Hải, Trang, Tình; còn anh Chiến, anh Thế và chị Đẹp ngồi ở bên cạnh xem. Khoảng 30 phút sau, anh Thế đang ngồi xem thì mượn bài của Đằng để so bài với Hải bằng cách lấy 03 quân bài chia đầu tiên trong lượt chia bài rồi so điểm

17

với Hải theo hình thức chơi “liêng”, mức cược là 100.000 đồng/ một ván; Thế và Hải chơi một ván thì Thế thua 100.000 đồng cho Hải nên Thế không chơi nữa mà tiếp tục ngồi xem. Khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, Công an phường Bãi Cháy kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc 6.450.000 đồng (gồm 6.100.000 đồng tại các vị trí ngồi tham gia đánh bạc, 350.000 đồng trong lọ nhựa ở bàn uống nước phòng khách), 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 01 thảm và 01 chăn. Ngoài ra, thu giữ của Trần Văn Đằng 01 điện thoại di động Vivo màu xanh và 1.020.000 đồng cất trong người; thu giữ của Nguyễn Thị Thu Hằng 01 điện thoại di động Samsung màu đen và 500.000 đồng cất trong người; thu giữ của Trần Văn Hải 01 điện thoại đi động Samsung màu đen và 1.717.000 đồng cất trong người; thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc Trang 01 điện thoại di động Oppo màu xanh và 1.000.000 đồng cất trong người; thu giữ của Lê Văn Tình 01 điện thoại di động Iphone màu vàng. Quá trình bắt quả tang, anh Doanh Văn Thế, Nguyễn Cao Chiến và chị Lưu Thị Đẹp đang ngồi xem đánh bạc (bút lục số 7- 10).

Về cách thức đánh bạc “lốc” và “liêng”, các bị can và anh Doanh Văn Thế đều khai nhận như sau:

Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài để đánh "lốc". Mỗi người chơi sẽ được chia 10 lá khi bắt đầu ván bài. Ở ván đầu tiên, người giữ quân bài nhỏ nhất trong bàn sẽ được đánh trước. Từ ván thứ 2 trở đi, người về nhất của ván trước sẽ giành được quyền đi đầu. Trong luật chơi Lốc, quân bài lẻ (rác): Là các quân bài đơn lẻ, thứ tự các quân bài là 3, 4, 5, ..., J, Q, K, A, 2, trong đó 3 là quân nhỏ nhất và 2 là quân lớn nhất và không nằm trong bộ nào được kể đến dưới đây. Đôi: Là cặp bao gồm 2 quân bài cùng số. Đôi 3 là đôi nhỏ nhất và đôi 2 là lớn nhất. Sáp: Bộ gồm 3 lá bài cùng số. Sáp 3 là sáp nhỏ nhất và sáp 2 là lớn nhất. Tứ quý: Bộ gồm 4 lá bài cùng số. Tứ 3 là tứ nhỏ nhất và tứ 2 là lớn nhất. Dây (Sảnh): Bộ gồm các quân bài có thứ tự liên tiếp từ 3 lá trở lên, không giới hạn số lượng, độ lớn của dây (sảnh) được tính như sau: Sảnh nhỏ nhất bắt đầu từ A, sảnh lớn, nhất kết thúc bởi A. Ví dụ: A23 < (nhỏ hơn) 234 < 345 <.......< JQK < QKA (không có sảnh KA2). Ăn trắng: Được tính khi người chơi sở hữu bài có: Sảnh 10 lá (Sảnh Rồng). Tứ quý 2. Cả 10 lá bài cùng màu (không cần cùng chất hoàn toàn). 3 sáp cô. 5 đôi. Thứ tự ưu tiên ăn trắng: Sảnh Rồng> (lớn hơn)Tứ quý 2> Cùng màu> 3 sáp cô> 5 đôi. Xin làng (báo, cướp cái): khi người chơi xem bài cảm thấy bài mình về nhất không ai có thể chặn được thì người chơi có thể “Báo” để giành quyền ưu tiên đánh trước. Sau khi “Báo”, người chơi sẽ đánh lần lượt bài của mình xuống. Nếu không ai chặn được các lá bài của người "Báo", sẽ được coi là “Báo” thành công. Nếu bị chặn một trong số những lá bài đánh xuống khi “Báo” thì người giành quyền “Báo” sẽ phải đền làng. Khi có người "Báo" thành công, mỗi người còn lại phải trả cho người "Báo" thành công 300.000 đồng. Người “Báo” thành công sẽ phải góp 50.000 đồng vào 01 chiếc lọ nhựa trên bàn uống nước phòng khách để mọi người ăn tối. Người

18

“Báo” không thành công phải trả cho người “Bắt báo” (là người chặn được một trong số các lá bài mà người “Báo” đánh ra) số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Trong luật chơi Lốc, người đi sau sẽ lần lượt chặn bài người đi trước bằng quân bài/bộ lớn hơn quân bài/bộ mà người đi trước đánh ra. Đôi chặn đôi, sáp chặn sáp, dây (sảnh) chặn dây (sảnh) (sảnh phải lớn hơn và có độ dài bằng sảnh của người đi trước mới có thể chặn). Mỗi tứ quý bất kỳ có thể chặn được một lá 2. Khi đánh ra một quân/bộ mà không có ai trong bàn có thể chặn được, người chơi sẽ giành được quyền tiếp tục đánh đầu tiên cho lượt kế tiếp. Người chiến thắng là người đánh được hết các lá bài trên tay đầu tiên của ván, mỗi ván chỉ có một người chiến thắng, những người còn bài trên tay là người thua cuộc. Mỗi người thua phải trả cho người chiến thắng số tiền 10.000 đồng với mỗi lá bài còn lại trên tay. Người nào còn cầm đủ 10 lá bài trên tay thì bị coi là “Cháy” và phải trả cho người chiến thắng số tiền 200.000 đồng.

Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để chơi “Liêng”, quân bài 10, J, Q, K gọi là đầu người quy ước là 0 điểm khi đứng lẻ một mình, các quân bài còn lại (A,2,3...9) có số điểm tương ứng (1,2,3,...9). Trong trường hợp có 03 quân bài liên tiếp nhau (ví dụ A23, 234,...10JQ, JQK, QKA) thì gọi là “Liêng”. Nếu hai bài có “liêng” thì phải xét bài lớn bé theo thứ tự từ thấp đến cao lần lượt A23, 234,...JQK, QKA. Nếu hai bài có “liêng” bằng nhau thì xét theo chất từ thấp đến cao lần lượt “cơ, rô, bích, tép” và xét đến quân bài tú lơ khơ to nhất trong bộ “liêng”. Nếu không có bài “liêng” thì cộng điểm tính điểm tổng, ai có điểm cao hơn thì thắng (điểm tổng chỉ tính số ở hàng đơn vị, nếu tổng là 10, 20 tính là 0 điểm).

Quá trình điều tra, các bị can Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung nêu trên. Về số tiền đánh bạc và thắng, thua các bị can và anh Doanh Văn Thế khai nhận:

Trần Văn Đằng sử dụng 3.270.000 đồng để đánh bạc và bỏ dưới chiếu bạc 2.250.000 đồng để chơi, khi bắt quả tang Đằng thua 1.420.000 đồng và bị thu giữ tại vị trí ngồi 830.000 đồng, thu giữ trong người còn 1.020.000 đồng dùng để đánh bạc (bút lục số 158, 164, 169, 178, 343, 344).

Nguyễn Thị Thu Hằng sử dụng 1.700.000 đồng để đánh bạc và bỏ dưới chiếu bạc 1.200.000 đồng để chơi, khi bắt quả tang Hằng thua 530.000 đồng và bị thu giữ tại vị trí ngồi 670.000 đồng, thu giữ trong người còn 500.000 đồng dùng để đánh bạc (bút lục số 243, 250, 254, 258, 261, 345).

Trần Văn Hải sử dụng 1.717.000 đồng để đánh bạc, khi bắt quả tang Hải thắng 1.650.000 đồng và bị thu giữ tại vị trí ngồi 1.650.000 đồng, thu giữ trong người còn 1.717.000 đồng dùng để đánh bạc (bút lục số 189, 196, 201, 204, 207, 346).

Nguyễn Thị Ngọc Trang sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc và bỏ dưới chiếu bạc 2.000.000 đồng để chơi, khi bắt quả tang Trang thua 900.000 đồng và

19

bị thu giữ tại vị trí ngồi 1.100.000 đồng, thu giữ trong người còn 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc (bút lục số 267, 276, 278, 281, 284, 347).

Lê Văn Tình sử dụng và bỏ hết số tiền dưới chiếu bạc 900.000 đồng để chơi, khi bắt quả tang Tình thắng 950.000 đồng và bị thu giữ tại vị trí ngồi 1.850.000 đồng (bút lục số 220, 231, 348).

Anh Doanh Văn Thế sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc với Trần Văn Hải dưới hình thức chơi “liêng”, sau khi thua tiền Thế ngồi xem các bị can đánh bạc và không tham gia đánh bạc với các bị can khác (bút lục số 288, 289, 293, 294).

Về số tiền 350.000 đồng để trong lọ nhựa, các bị can khai là do các bị can lần lượt bỏ vào khi đánh bạc “báo bài” thành công.

Về số tiền cất trong người của Trần Văn Đằng có 1.020.000 đồng, Nguyễn Thị Thu Hằng có 500.000 đồng, Trần Văn Hải có 1.717.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc Trang có 1.000.000 đồng, các bị can đều khai nhận nếu chơi thua sẽ bỏ hết ra để tiếp tục đánh bạc.

Căn cứ kết quả điều tra, có căn cứ xác định tổng số tiền các bị can Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 10.687.000 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng).

Toàn bộ số tiền 10.687.000 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng), Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Công an thành phố Hạ Long mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ninh; đối với các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã chuyển nhập kho vật chứng để bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Đối với 05 đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị can chuyển theo hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2024, tại phòng khách nhà riêng của Trần Văn Đằng, thuộc tổ 1, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình đã có hành vi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc”. Đến 16 giờ 55 phút cùng ngày, Công an phường Bãi Cháy kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số tiền sử dụng vào đánh bạc là 10.687.000 đồng (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 lọ nhựa trong suốt kích thước (12x10x21)cm, 01 chiếc chiếu kích thước (195x155)cm màu nâu, 01 chiếc chăn kích thước (195x170)cm màu xanh.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

20

1. Họ và tên: Trần Văn Đằng; Tên gọi khác: Thanh; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 14/4/1978, tại Quảng Ninh;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 56, khu 5, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi ở hiện tại: Tổ 1, khu 10 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12;

Họ và tên cha: Trần Văn Khá; - (Đã chết);

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ước; - Sinh năm: 1940;

Anh, chị em ruột: Có 06 người, bị can là con thứ sáu;

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Thu Hường - Sinh năm 1980;

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 25/9/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", đã chấp hành xong bản án.

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hằng; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày: 06/11/1980, tại Quảng Ninh;

Nơi cư trú: Tổ 2, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Họ và tên cha: Nguyễn Công Kịch; - (Đã chết);

Họ và tên mẹ: Trần Thị Mùi; - Sinh năm: 1955;

Anh, chị em ruột: Có 02 người, bị can là con lớn nhất;

Họ và tên chồng: Lương Thế Hà - Sinh năm 1977;

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006;

Tiền án: Ngày 21/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt tiền 20.000.000 đồng về tội "Đánh bạc". Ngày 25/12/2024, bị can chấp hành xong bản án.

21

Tiền sự: Không;

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

3. Họ và tên: Trần Văn Hải; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 25/12/1980, tại Thái Bình;

Nơi ĐKNKTT: thôn Điện Biên, xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;

Nơi ở hiện tại: Tổ 6, khu 9B, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12;

Họ và tên cha: Trần Nam Trung; - Sinh năm: 1957;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Mơ; - Sinh năm: 1955;

Anh, em ruột: Có 02 người, bị can là con thứ nhất;

Họ và tên vợ: Bùi Thị Tĩnh - Sinh năm 1982;

Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 16/5/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội "Đánh bạc", đã chấp hành xong bản án.

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

4. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Trang; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày: 29/12/1988, tại Quảng Ninh;

Nơi cư trú: Tổ 4, khu 1, phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Họ và tên cha: Nguyễn Tiến Giang; - Sinh năm: 1959;

Họ và tên mẹ: Dương Thị Ngân; - Sinh năm: 1962;

22

Anh, chị em ruột: Có 02 người, bị can là con lớn nhất;

Họ và tên chồng: Ngô Thành Cương - Sinh năm: 1984 (Đã ly hôn);

Bị can có 01 con, sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

5. Họ và tên: Lê Văn Tình; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 27/7/1980, tại Quảng Ninh;

Nơi cư trú: thôn 4, xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12;

Họ và tên cha: Lê Văn Khịt; - Sinh năm: 1957;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Chung; - Sinh năm: 1959;

Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị can là con thứ hai;

Họ và tên vợ: Đỗ Thị Năm - Sinh năm: 1983;

Bị can có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 02/01/2025, được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến ngày 02/3/2025, tại xã Liên Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Hành vi nêu trên của các bị can Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình đã phạm vào tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

23

Nguyễn Thị Thu Hằng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; các bị can còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, cả 05 bị can Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Riêng các bị can Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lê Văn Tình phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Doanh Văn Thế có hành vi đánh bạc trái phép với bị can Trần Văn Hải, nhưng do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; Doanh Văn Thế chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên chưa đến mức xử lý hình sự, Công an thành phố Hạ Long đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với anh Nguyễn Cao Chiến và chị Lưu Thị Đẹp ngồi xem nhưng không tham gia đánh bạc nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, để xét xử các bị can Trần Văn Đằng, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Văn Hải, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lê Văn Tình về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

  • - Hồ sơ vụ án gồm có tờ; đánh số thứ tự từ 01 đến .
  • - Vật chứng: Có biên bản bàn giao riêng kèm theo.
  • - Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hạ Long (để xét xử);
  • - Viện KSND tỉnh Quảng Ninh (để báo cáo);
  • - Các bị can;
  • - Hồ sơ vụ án (để xét xử);
  • - Hồ sơ KSĐT (để công tố);
  • - CQĐT CATP. Hạ Long (để biết);
  • - Lưu: HSVA, HSKS, VP.

KT. VIỆN TRƯỞNG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

Dương Trọng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc

  • Số bản án: 71/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger