|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/HS-ST
Ngày 17 – 6 – 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Đoan Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Liên
Ông Nguyễn Duy Tài
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2025/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn K, sinh ngày 12/11/2001 tại Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Thân Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Đỗ Văn Đ, sinh ngày 10/4/2001 tại Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H2 và bà Lê Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Vũ Kiên G, sinh ngày 24/02/2001 tại Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Q và bà Lê Thị H3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Vũ Văn T, sinh ngày 26/12/2001 tại Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B và bà Lê Thị H4; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2025, Nguyễn Văn K đi một mình đến căn nhà xã hội ở khu vực chợ Đ2 thuộc thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc do K thuê của anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khải đang ở nhà được một lúc thì có Vũ Văn T đi đến ngồi chơi cùng với K. Sau đó, thì có Vũ Kiên G đi đến nhà thuê của K để chơi. Tại đây, K, Đ, T và G cùng rủ nhau lên phòng ngủ tầng 2 của ngôi nhà này để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn tiền thì tất cả mọi người đều đồng ý. Khi lên tầng 2 phòng ngủ của căn nhà này đã có 01 chiếc chăn được trải sẵn trên 01 chiếc đệm kê ở nền phòng ngủ. Sau đó, K đi xuống bếp tầng 1 lấy 01 chiếc bát sứ màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng đem lên làm dụng cụ đánh bạc. Còn Đ lấy 01 chiếc kéo có sẵn ở phòng ngủ tầng 2 rồi cắt 04 quân xóc từ quân bài chắn có sẵn ở phòng ngủ để làm dụng cụ đánh bạc. Sau khi đã chuẩn bị được đầy đủ các dụng cụ đánh bạc thì K, T, Đ và G cùng ngồi lên chiếc chăn được trải sẵn trên đệm để đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền với nhau. Cả nhóm thống nhất: Mức cược thấp nhất đối với mỗi người chơi là 50.000 đồng/ván, ai đặt cao hơn thì tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa con bạc và người xóc cái, ai chọn cửa chẵn thì đặt tiền bên tay phải người xóc cái, ai chọn cửa lẻ thì đặt tiền bên tay trái người xóc cái; dụng cụ chơi xóc đĩa gồm 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ, 04 quân xóc hình tròn được cắt từ quân bài chắn đều có một mặt có hoa văn màu xanh- trắng, một mặt có hoa văn màu đỏ- đen- trắng; cách thức chơi: Người xóc cái sẽ đặt 04 quân xóc lên đĩa, úp bát lên rồi xóc liên tục để đảo lộn các mặt quân, sau đó đặt bát, đĩa xuống chiếu để những người tham gia đánh bạc đặt tiền cược xuống chiếu chọn cửa chẵn hoặc cửa lẻ, sau khi người chơi đặt tiền cược xong thì người xóc cái sẽ cân đối lượng tiền cược của 02 cửa để nhận cược với số tiền tại cửa mình muốn hoặc chuyển lại tiền chênh lệch cho ai có nhu cầu mua rồi mở bát ra xem kết quả, sau khi mở bát ra, nếu có 04 quân hoặc 02 quân cùng màu ngửa trên đĩa thì người đặt cược cửa chẵn thắng, nếu có 03 quân cùng màu và 01 quân khác màu ngửa ra trên đĩa thì người đặt cược cửa lẻ thắng; người thắng sẽ được trả cho số tiền tương ứng với tiền mình đặt cược do người xóc cái trả hoặc cân đối lấy tiền cược của người thua trả cho người thắng.
Khi bắt đầu đánh bạc thì Đ là người xóc cái cho K, G và T đặt tiền cá cược đánh bạc với Đ và đánh bạc với nhau. Đạo xóc cái được một lúc thì chuyển lại cho K là người xóc cái thay cho Đ để Đ, G và T đặt tiền đánh bạc. Khải xóc cái một lúc thì chuyển lại cho T xóc cái để K, Đ và G đặt tiền đánh bạc. Các đối tượng K, T, Đ và G đánh bạc đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày 20/3/2025 thì Nguyễn Trung Đ1, sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố P, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đến và ngồi xem T, K, Đ, G đánh bạc ăn tiền với nhau. K, T, Đ và G đánh bạc đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày thì bị lực lượng Công an tỉnh V đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Tang vật cơ quan Công an đã thu giữ gồm:
- - Thu tại chiếu bạc nơi các đối tượng ngồi đánh bạc tổng số tiền 47.500.000 đồng là tiền của Đ, G, T và K sử dụng vào việc đánh bạc.
- - Thu giữ trên người của Nguyễn Trung Đ1 số tiền 6.200.000 đồng.
- - Thu giữ 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân xóc đều có một mặt có hoa văn màu xanh - trắng, một mặt có hoa văn màu đỏ - đen - trắng; 01 chiếc kéo bằng kim loại có chuôi màu vàng, phần lưỡi kéo màu trắng; 01 chiếc chăn màu xám.
- - Thu giữ của Vũ Kiên G: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 promax, màu xám, có số Imei: 350096145774539, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0933717577, có mật khẩu mở khóa màn hình là 242001, điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn K: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu trắng, có số Imei: 351339414932225, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0964567675, có mật khẩu mở khóa màn hình là 011112, điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
- - Thu giữ của Vũ Văn T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím, có số Imei: 355281431742474, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0983696944, có mật khẩu mở khóa màn hình là 555555, điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
- - Thu giữ của Đỗ Văn Đ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím, bên trong gắn 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0904825127, chưa kiểm tra được thông tin máy do không có mật khẩu mở khóa màn hình, điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
- - Thu giữ của Nguyễn Trung Đ1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu xanh, có số Imei: 359786255163665, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0346141111, có mật khẩu mở khóa màn hình là 141111, điện thoại cũ và đã qua sử dụng.
Kết quả điều tra về số tiền sử dụng đánh bạc như sau: Nguyễn Văn K có số tiền 14.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; từ khi đánh bạc đến khi bị cơ quan Công an bắt quả tang thì K đang thắng được số tiền 5.500.000 đồng và để toàn bộ số tiền 19.500.000 đồng trên chiếu bạc. Đỗ Văn Đ có số tiền 14.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đánh bạc; từ khi đánh bạc đến khi bị cơ quan Công an bắt quả tang thì Đ đang thua số tiền 13.900.000 đồng, còn lại số tiền 100.000 đồng thì Đ để trên chiếu bạc. Vũ Văn T có số tiền 2.500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đánh bạc; từ khi đánh bạc đến khi bị cơ quan Công an bắt quả tang thì T đang thắng được số tiền 18.400.000 đồng và để toàn bộ số tiền 20.900.000 đồng trên chiếu bạc. Vũ Kiên G có số tiền 17.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đánh bạc; từ khi đánh bạc đến khi bị cơ quan Công an bắt quả tang thì G đang thua số tiền 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 7.000.000 đồng thì G để trên chiếu bạc. Do vậy có đủ cơ sở xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 47.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKS-P2 ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 17; điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 17; điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Kiên G từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 17; điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T từ 20 triệu đến 30 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2025, Đỗ Văn Đ, Vũ Văn T và Vũ Kiên G đến nhà Nguyễn Văn K ở khu chợ Đ2 V thuộc thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để chơi, uống nước. Tại nhà K, các đối tượng K, Đ, T, G cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức xóc đĩa, mức đặt cửa thấp nhất là 50.000 đồng/ván, cao nhất không giới hạn. K lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ có sẵn, Đ cắt 04 quân xóc. Cả nhóm thỏa thuận lần lượt từng người xóc cái. Sau đó K, Đ, T, G đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa với nhau đến khoảng 21 giờ 05 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 47.500.000 đồng trên chiếu bạc, 01 đĩa, 01 bát, 04 quân xóc, 04 chiếc điện thoại di động các loại và một số đồ vật khác. Kết quả điều tra xác định số tiền dùng vào việc đánh bạc của K, Đ, T, G là 47.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
[3]. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Đánh bạc là tệ nạn xã hội cần lên án, là một trong những nguyên nhân gây ra rất nhiều mâu thuẫn, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét vai trò, nhân thân các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là phạm pháp song do tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Trong vụ án này, các đối tượng cùng rủ nhau, thỏa thuận thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền, do vậy các bị cáo đều tham gia với vai trò đồng phạm là người thực hành.
Đối với Nguyễn Văn K, mặc dù các đối tượng đánh bạc tại nhà do K thuê, số tiền đánh bạc trên 20.000.000 đồng nhưng K không rủ rê, lôi kéo các đối tượng tham gia đánh bạc; không chuẩn bị công cụ phạm tội, không phân công ai, không thu tiền hồ, do đó hành vi của K chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” mà không phạm vào các tội “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc”. Tuy nhiên, K sử dụng địa điểm do mình quản lý để cho các đối tượng làm nơi đánh bạc, đồng thời thực hiện hành vi xóc đĩa và sử dụng số tiền đánh bạc lớn nên K phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc nhất. Đối với Đ và G, tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người thực hành tích cực, sử dụng số tiền đánh bạc có giá trị tương đồng nên cả hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc như nhau. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: Trước khi phạm tội, các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng K còn có thời gian tham gia nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với Vũ Văn T cũng tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, vai trò thứ yếu nên cũng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” như các bị cáo khác. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, bản thân T sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo cũng đủ đảm bảo sự răn đe và phòng ngừa chung, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Trong vụ án này, còn có Nguyễn Trung Đ1, là người ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Kết quả điều tra xác định: Đ1 không tham gia đánh bạc và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Đ1 là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Văn L1 là người cho Nguyễn Văn K thuê nhà rồi K sử dụng căn nhà này làm địa điểm đánh bạc. Quá trình điều tra xác định L1 cho K thuê căn nhà trên với mục đích để ở, L1 không biết K sử dụng căn nhà này làm địa điểm đánh bạc và L1 cũng không liên quan gì đến hành vi đánh bạc của các bị cáo. Do vậy, việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý gì đối với L1 là đúng quy định của pháp luật.
[6]. Về hình phạt bổ sung, xét thấy: Để nâng cao tính răn đe đối với các bị cáo K, Đ, G nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung ngân sách Nhà nước như đề nghị của Viện kiểm sát. Riêng bị cáo T, đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền 47.500.000 đồng là tang vật vụ án thu giữ tại chiếu bạc, là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, do vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân xóc đều có một mặt có hoa văn màu xanh - trắng, một mặt có hoa văn màu đỏ - đen - trắng, 01 chiếc kéo bằng kim loại có chuôi màu vàng, phần lưỡi kéo màu trắng, 01 chiếc chăn màu xám. Kết quả điều tra xác định đây đều là công cụ sử dụng vào việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu để tiêu hủy.
- - Đối với 04 chiếc điện thoại di động thu giữ của K, Đ, G, T. Kết quả điều tra xác định các điện thoại này đều là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không sử dụng vào việc liên lạc để rủ nhau thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra cũng đã lập biên bản kiểm tra các điện thoại này xác định không có nội dung hay bất cứ thông tin gì có liên quan đến hành vi phạm tội đánh bạc hoặc hành vi phạm tội khác. Do vậy, cần trả lại cho các bị cáo các điện thoại này nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với số tiền 6.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Trung Đ1. Kết quả điều tra xác định tiền, điện thoại nêu trên đều là tài sản hợp pháp của Nguyễn Trung Đ1. Tối ngày 20/3/2025, Đ1 đến nhà K thuê để chơi; Đ1 ngồi xem mọi người đánh bạc, Đ1 không tham gia đánh bạc và không sử dụng số tiền đem theo cùng chiếc điện thoại di động nêu trên để đánh bạc. Do vậy, ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 6.200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động cho Nguyễn Trung Đ1 theo quy định pháp luật. Nguyễn Trung Đ1 nhận đủ tài sản, không có ý kiến, đề nghị gì.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Kiên G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92, Điều 68 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- - Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 47.500.000đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân xóc đều có một mặt có hoa văn màu xanh- trắng, một mặt có hoa văn màu đỏ- đen- trắng, 01 chiếc kéo bằng kim loại có chuôi màu vàng, phần lưỡi kéo màu trắng, 01 chiếc chăn màu xám.
- - Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T 04 chiếc điện thoại di động nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 13/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
Các bị cáo Nguyễn Văn K, Đỗ Văn Đ, Vũ Kiên G, Vũ Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Đoan Trang |
Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về đánh bạc
- Số bản án: 71/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn K và đồng phạm về tội đánh bạc
