|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2025/HS-ST |
|
|
Ngày 09/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 20/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 đối với bị cáo:
Trịnh Văn H, sinh ngày 12/4/1971 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn T và bà Lê Thị N (đều đã chết); Có vợ là Trịnh Thị A, sinh năm 1978; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2001; Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã số 30/QĐ - XPTT ngày 01/02/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, thành phố T trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 01/02/2024 vì nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 01/5/2024; Nhân thân: Bản án số 83/2018/HSST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2019, chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung ngày 28/8/2018; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2025 đến ngày 07/4/2025 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện H, Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt tại phiên tòa)
* Người chứng kiến:
- Anh Bùi Phương N1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Anh Đào Văn T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 01/4/2025 Trịnh Văn H đi bộ từ nhà đến cầu C thuộc phường Q, thành phố T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 400.000đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. H đem gói Heroine về nhà chia thành 02 gói nhỏ, để 01 gói trên mặt ghế trong phòng khách, gói còn lại Hoàng cất vào túi quần đang mặc. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Trịnh Văn H đang đứng trước cửa nhà ở thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã V, thành phố T tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Bùi Phương N1 và anh Đào Văn T1, tổ công tác tiến hành kiểm tra người H, H đã tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói, bên ngoài gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, của H cất giấu để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,4006 gam. Sau đó tổ công tác yêu cầu H và mời những người chứng kiến vào trong nhà ở của H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Văn H tại thôn B, xã V, thành phố T đã thu tại mặt ghế phòng khách 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Kết quả giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1393 gam.
Bản Kết luận giám định số 318/KL- KTHS ngày 05/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Trịnh Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,4006 gam (Không phẩy bốn nghìn không trăm linh sáu gam; Mẫu vật quản lý khi khám xét chỗ ở của Trịnh Văn H là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1393 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm chín mươi ba gam). Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKSTPTB ngày 19/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố bị cáo Trịnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn lại sau giám định gồm 0,3519 gam ma túy, loại Heroine thu giữ của Trịnh Văn H và 0,1125 gam ma túy, loại Heroine thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trịnh Văn H và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 318/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập ngày 01/4/2025; Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là anh Bùi Phương N1 và anh Đào Văn T1; Bản kết luận giám định số 318/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 01/4/2025 tại thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Trịnh Văn H có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,4006 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã V, thành phố T phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra H còn tàng trữ trái phép tại nơi ở thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình 0,1393 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trịnh Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người, tại nơi ở để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Do bị cáo đã từng bị xét xử về tội ma tuý nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 0,4006 gam ma túy, loại Heroine thu giữ của Trịnh Văn H, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,3519 gam và 0,1393 gam ma túy, loại Heroine thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trịnh Văn H, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1125 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 318/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh T là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: H khai mua của một người nam giới, khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu V, phường Q, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 01/4/2025, phạt bổ sung 5.000.000 (năm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy được hoàn lại sau giám định gồm 0,3519 gam ma túy, loại Heroine thu giữ của Trịnh Văn H và 0,1125 gam ma túy, loại Heroine thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trịnh Văn H và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 318/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 21/5/2025).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trịnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Trịnh Văn H có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 09/6/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 71/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
