Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HS-PT

Ngày 19 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh
  • - Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Ẩn
  • Ông Nguyễn Văn Tuấn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Hồ Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

* Bị cáo có kháng cáo: Hồ Thanh T (tên gọi khác: Tý Quẹo), sinh ngày 16/10/1998, tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh Q (sinh năm 1973) và bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1977); có vợ là Mai Kiều H (sinh năm 2003); có 01 con sinh năm 2023;

Tiền án: Ngày 06/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án sơ thẩm số 13/2019/HS-ST. Ngày 26/7/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án sơ thẩm số 170/2019/HS-ST; tổng hợp với hình phạt tại bản án số 13/2019/HS-ST ngày 06/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, buộc Hồ Thanh T chấp hành hình phạt 06 năm tù (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/11/2022);

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 30/12/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 419/HS-ST.

- Ngày 19/12/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 236/2014/HS-PT.

- Ngày 24/11/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện D (nay là P trại tạm giam Khu vực D - Trại tạm giam Công an tỉnh K). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có các bị cáo Trần Thanh P1, Nguyễn Văn H1, Cao Thành L không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Thanh T là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, T và các bị cáo đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D, cụ thể như sau:

Vụ 1:

Rạng sáng ngày 16/6/2024, Hồ Thanh T điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở “Đỏ” (chưa xác định nhân thân lai lịch), đi từ thành phố N đến huyện D để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước nhà bà Nguyễn Thị Vân T2 thuộc tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D thì phát hiện có 04 xe mô tô đang dựng trong sân nhà. T dừng xe leo qua hàng rào, tháo lấy 01 camera loại 03 râu gắn trên cổng rồi vào trong sân nhà, “Đỏ” đứng bên ngoài cảnh giới. T lấy cây chổi trong sân đẩy lệch hướng quay của chiếc camera gắn trên hiên nhà rồi dùng kiềm cắt cộng lực (dài 46 cm) đã mang theo sẵn trước đó cắt khuy khóa, mở cửa cổng rồi lần lượt cùng “Đỏ” lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, số khung RLHJK0356RY316541, số máy JK03E3401880, biển số 79D1 - 931.76; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RS, số khung 09046Y544816, số máy HC09E6544906, biển số 79D1 - 424.96; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số khung 5P10CY152973, số máy 55P1-152984, biển số 86B2 - 113.96 của bà T2 mang đi cất giấu tại bụi cây ven đường V. Chiếc camera T treo trên xe của “Đỏ” để mang về nhà nhưng trên đường đi đã bị rơi mất.

Thông qua mạng xã hội T biết Cao Thành L có nhu cầu mua xe máy cũ nên đã chụp hình 03 xe mô tô gửi cho L. L đồng ý mua 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RS, biển số 79D1 - 424.96 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 86B2 - 113.96. Khoảng 09 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại nhờ “H2” (chưa xác định nhân thân lai lịch) đi cùng T và “Đỏ” đến khu vực đường V nơi đã cất giấu 03 xe mô tô trộm cắp. T điều khiển xe mô tô của mình; H2 điều khiển xe mô tô Wave RS, biển số 79D1 - 424.96; “Đỏ” điều khiển xe mô tô Exciter, biển số 86B2 - 113.96 đến thị trấn C, huyện C để bán

cho L. Trên đường đi, T thay biển số 79D1 - 424.96 bằng biển số 79F5 - 9036 (T đã mua ở tiệm phế liệu trước đó) vào xe mô tô Wave RS và T tháo biển số 86B2 - 113.96 của xe mô tô Exciter vứt bỏ cùng biển số 79D1 - 424.96 ở dọc đường. Khi đến nơi, L nhìn thấy xe mô tô không gắn biển số, không có chìa khóa xe, không có giấy tờ xe nên biết rõ 02 xe mô tô nêu trên là tài sản do T phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ nên L đã đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng. Số tiền có được T và “Đỏ” chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đón xe ôm đến khu vực đường V nơi đã cất giấu xe mô tô trộm cắp, đấu dây bình rồi nổ máy điểu khiển xe mô tô Vision, biển số 79D1 - 931.76 đến khu vực Lầu G, thành phố N bán cho một người thanh niên tên “Tý M” (chưa xác định nhân thân lai lịch) với giá 7.000.000 đồng. Số tiền có được T chia cho “Đỏ” 3.500.000 đồng, còn lại T tiêu xài cá nhân hết.

Vụ 2:

Khoảng 01 giờ ngày 22/6/2024, đối tượng tên “S” (chưa xác định nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô chở T đi từ xã S, huyện D về nhà tại xã V, thành phố N. Khi đi ngang qua hộ nhà ông Nguyễn Văn H3 tại thôn C, xã S, huyện D, T phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, số khung 3307CY263964, số máy JF33E0283229, biển số 79D1 - 162.30 của bà Trần Thị Thu H4 đang dựng trong sân nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T nói S dừng xe đi về trước, T sẽ về sau. Sau đó, T leo qua tường rào nhà ông H3 đi vào bên trong, bẻ lấy 01 camera loại 03 râu ở góc sân. Thấy cửa sổ của gian phòng thờ đang mở nên T dùng tuốc-nơ-vít đã mang theo sẵn tháo ốc-vít khung sắt rồi đột nhập vào bên trong nhà. T đi đến phòng khách thấy 03 bình rượu ngâm (mỗi bình có dung tích 03 lít) và 01 chùm chìa khóa, nên đã lấy chìa khóa mở cửa chính mang 03 bình rượu ra ngoài sân rồi tiếp tục đi vào phòng ngủ lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S của bà H4 đang để trên giường, rồi lấy chìa khóa xe mô tô để trên bàn mang ra ngoài. T bỏ 03 bình rượu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, 01 camera loại 03 râu vào thùng xốp đặt lên xe mô tô biển số 79D1 - 162.30, rồi lấy chìa khóa mở cửa cổng, dắt xe mô tô cùng tài sản trộm được ra ngoài nổ máy điều khiển về nhà mình. Trên đường đi T làm rơi bể 01 bình rượu, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Tùng mang đến khu vực Lầu G, thành phố N đổi cho một người đàn ông (không xác định nhân thân lai lịch) lấy ma túy, một mình sử dụng hết.

T quen biết với Huỳnh Tân T3 và biết T3 có nhu cầu mua xe máy cũ để làm phương tiện đi lại nên T thay biển số 79D1 - 162.30 bằng biển số 79D1 - 407.72 (T mua ở tiệm phế liệu) vào xe mô tô Vision rồi chụp hình gửi cho T3 qua mạng xã hội Zalo. T và T3 thỏa thuận giá bán xe mô tô nêu trên là 3.000.000 đồng. Số tiền có được T mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

Thêm không biết xe mô tô do T trộm cắp mà có nên mua để làm phương tiện đi lại. Thêm đã giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, số

khung 3307CY263964, số máy JF33E0283229, gắn biển số 79D1 - 407.72 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D.

Vụ 3:

Khoảng 03 giờ ngày 23/6/2024, T mượn xe mô tô không rõ biển số của “S” (chưa xác định nhân thân lai lịch), chở Trần Thanh P1 đi từ thành phố N đến huyện D để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực đường Q thuộc thôn P, xã D, huyện D thì phát hiện trong sân nhà bà của Ca Thị N có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung RLHJA3923NY468952, số máy JA39E2905652, biển số 79C1 - 717.31 của chị Võ Thị Tuyết V (con dâu bà N) đang dựng. T dùng kiềm cắt đã mang theo sẵn trước đó cắt lưới B40 bên hông trái nhà bà N rồi chui vào bên trong, đến cửa sổ đang mở nhìn thấy trên tủ lạnh có chùm chìa khóa nên luồn tay lấy, mở cửa cổng dắt xe mô tô biển số 79C1 - 717.31 mang ra ngoài đấu dây bình rồi tiếp tục quay lại. T đi đến phía sau nhà thì phát hiện cửa không cài chốt nên lẻn vào trong nhà lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 của bà N để trên kệ và 01 chiếc túi xách màu đen của chị Huỳnh Thị Thanh T4 (con gái bà N) bên trong có 01 ví da màu xanh, 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 thẻ ngân hàng T5. Lúc này bà N tỉnh giấc phát hiện, T chạy ra ngoài nổ máy điều khiển xe mô tô biển số 79C1 - 717.31 cầm các tài sản đã trộm cắp được cùng P1 bỏ chạy ra đường V. Trên đường đi, T lục tìm tài sản trong túi xách màu đen lấy 01 ví da nhỏ màu xanh, giấy phép lái xe cùng thẻ ngân hàng của chị T4 rồi vứt chiếc túi trên đường.

Vụ 4:

Khoảng 05 giờ ngày 23/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 79C1 - 717.31 vừa trộm cắp được chở P1 đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước nhà anh Hồ Thanh V1 tại thôn A, xã D, huyện D thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung 3916KY221721, số máy JA39E1080655, biển số 79D1 - 674.54 đang dựng trong sân nhà. T dùng mỏ lết đã mang theo bẻ 04 mũi giáo gắn trên cổng rồi leo vào bên trong dùng kìm cộng lực cắt khuy khóa cổng, dùng tua-nơ-vít gỡ bản lề khóa cổng mở cửa cho P1 đi vào. T đi đến mở tủ lạnh đặt ở hiên nhà lấy trộm 01 kg chả cá chiên; 01 kg mực, bạch tuộc; 0.5 kg cá rô phi; 03 lon Saigon Lager 330ml. P1 dắt xe mô tô biển số 79D1 - 674.54 mang ra ngoài, trên xe có 01 chiếc balo đựng 01 máy cắt kim loại cầm tay hiệu Maktec. P1 nhổ 01 cây Lộc vừng của anh V1 ra khỏi chậu rồi mang đi nhưng do cồng kềnh nên đã vứt bỏ lại. T điều khiển xe mô tô biển số 79C1 - 717.31 đẩy P1 điều khiển xe mô tô biển số 79D1 - 674.54 đến khu vực bãi đất trống trên đường V rồi tháo biển số của 02 xe mô tô đổi cho nhau.

Nguyễn Văn H1 là bạn bè ngoài xã hội, biết T là người nghiện ma túy và thường xuyên trộm cắp tài sản nên dặn T khi nào trộm cắp được xe mô tô thì bán cho H1 để làm phương tiện đi lại. Khoảng 06 giờ ngày 23/6/2024, T liên lạc với H1 rồi cùng P1 điều khiển 02 xe mô tô vừa trộm cắp nêu trên đến nhà H1. H1 và T thỏa thuận giá bán xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung RLHJA3923NY468952, số máy JA39E2905652, gắn biển số 79D1 -

674.54 với giá 3.800.000 đồng. H1 lấy biển số 79N1 - 139.68 của mình đã mua qua mạng xã hội Facebook thay vào xe mô tô vừa mua được của T. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã thu giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung RLHJA3923NY468952, số máy JA39E2905652, gắn biển số 79N1 - 139.68 và 01 biển số 79D1 - 674.54.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/6/2024, tổ công tác của Công an thành phố N trên đường tuần tra thì phát hiện T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, gắn biển số 79C1 - 717.31 đi trên đường L thuộc xã V, thành phố N có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an, T khai nhận xe mô tô trên là do T và P1 trộm cắp được trên địa bàn huyện D, Công an thành phố N đã bàn giao T cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 23/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Thanh T, thu giữ được một số tài liệu, đồ vật như sau:

  • - 01 kìm cắt cộng lực bằng kim loại dài 46 cm, phần cán sơn màu xanh, phần tay cầm bằng nhựa màu đen.
  • - 01 chiếc balo vải họa tiết con mèo, bên trong có 01 kìm cắt kim loại dài 22cm, phần cán bọc nhựa màu cam - đen; 01 tuốc-nơ-vít bằng kim loại dài 28.5 cm, phần cán bọc nhựa màu đỏ - trắng; 01 mỏ lết bằng kim loại dài 20.5cm, phần cán bọc nhựa màu đỏ.
  • - 01 máy cắt cầm tay hiệu “Maktec” màu đỏ - đen.
  • - 01 camera an ninh loại 3 râu, nhãn hiệu “Yoosee” bên trong gắn 01 thẻ nhớ nhãn hiệu “Natec” loại 32Gb.
  • - 01 ví da nữ, loại gấp đôi màu xanh lá cây, bên trong có 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Huỳnh Thị Thanh T4; 01 thẻ ngân hàng T5 mang tên Huỳnh Thị Thanh T4.
  • - 02 bình thủy tinh đựng rượu ngâm, dung tích mỗi bình 03 lít.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh dương, gắn sim số 0355.269.717.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 35 ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện D kết luận:

  • - Vụ việc xảy ra ngày 16/6/2024 tại hộ nhà bà Nguyễn Thị Vân T2 thuộc Tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Exciter, màu sơn xanh - trắng, biển số 86B2 - 113.96, có giá trị 15.600.000 đồng; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu xanh - đen - bạc, biển số 79D1 - 931.76, có giá trị 36.100.000 đồng; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RS, màu sơn xanh - đen - bạc, biển số 79D1 - 424.96, có

giá trị 7.150.000 đồng; 01 (Một) camera loại 03 râu có giá trị 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 59.250.000 đồng.

  • - Vụ việc ngày 22/6/2024 tại hộ nhà ông Nguyễn Văn H3 thuộc thôn C, xã S, huyện D: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ - bạc - đen, biển số 79D1 - 162.30, có giá trị 15.500.000 đồng; 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám, có giá trị 1.800.000 đồng; 03 (Ba) bình thủy tinh rượu ngâm, dung tích mỗi bình 03 lít có giá trị 2.700.000 đồng; 01 (Một) camera loại 03 râu có giá trị 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 20.400.000 đồng.
  • - Vụ việc xảy ra ngày 23/6/2024 tại hộ nhà bà Ca Thị N thuộc thôn P, xã D, huyện D: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn trắng - bạc, biển số 79C1 - 717.31, có giá trị 15.600.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 có giá trị 2.730.000 đồng; 01 (Một) túi xách nữ băng da màu đen có giá trị 180.000 đồng; 01 (Một) ví nữ loại gấp bằng da màu xanh có giá trị 90.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 18.600.000 đồng.
  • - Vụ việc xảy ra ngày 23/6/2024 tại hộ nhà anh Hồ Thanh V1 thuộc thôn A, xã D, huyện D: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen - bạc, biển số 79D1 - 674.54 có giá trị 11.100.000 đồng; 01 (Một) máy cắt cầm tay có giá trị 475.000 đồng; 01 (Một) cây cảnh loại lộc vừng có giá trị 750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 12.352.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 55 ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện D kết luận:

  • - Vụ việc xảy ra ngày 16/6/2024 tại hộ bà Nguyễn Thị Vân T2, thuộc tổ dân phố D, thị trấn D, huyện D: 01 (Một) tai khóa cổng bị cắt hư hỏng thiệt hại 5.000 đồng.
  • - Vụ việc xảy ra ngày 23/6/2024 tại hộ nhà bà Ca Thị N, thuộc thôn P, xã D, huyện D: Phần lưới B40 bị cắt có kích thước (40 x 50)cm bị hư hỏng thiệt hại 30.000 đồng.
  • - Vụ việc xảy ra ngày 23/6/2024 tại hộ nhà anh Hồ Thanh V1, thuộc thôn A, xã D, huyện D: 01 (Một) túi nilon đựng 01kg chả cá chiên có giá trị 80.000 đồng: 01 (Một) túi nilon đựng 01kg mực, bạch tuộc có giá trị 250.000 đồng; 01 (Một) túi nilon đựng 0.5 kg cá rô phi có giá trị 42.500 đồng; 03 (Ba) lon bia Saigon Lager 330ml có giá trị 36.000 đồng; 04 (Bốn) thanh chông gắn cổng bị bẻ gãy bị hư hỏng thiệt hại 30.000 đồng; 01 (Một) tai khóa cổng bị cắt bị hư hỏng thiệt hại 5.000 đồng.

Tại Công văn số 01/HĐĐGTS ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D trả lời: Không có đủ căn cứ để tiến hành định giá thành tiền của 01 chiếc ba lô màu đỏ - đen, có ghi chữ “HONDA BA ĐÌNH” đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKSDK ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Hồ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thanh P1, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Cao Thành L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hồ Thanh T; xử phạt bị cáo Hồ Thanh T 05 (Năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Trần Thanh P1, Nguyễn Văn H1, Cao Thành L; tuyên xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, bị cáo Hồ Thanh T có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Hồ Thanh T trong thời hạn nên hợp lệ. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 05 (Năm) năm tù là phù hợp.
  2. Quá trình giải quyết phúc thẩm, bị cáo Hồ Thanh T không xuất trình thêm được chứng cứ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
  3. Bị cáo Hồ Thanh T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hồ Thanh T trong thời hạn quy

định của pháp luật, nên vụ án được xét xử phúc thẩm.

  • Về nội dung:
    • [1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Thanh T khai nhận toàn bộ diễn biến, hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án; từ đó đủ cơ sở kết luận: Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, từ ngày 16/6/2024 đến ngày 23/6/2024, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Hồ Thanh T đã liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 110.983.500 đồng (Một trăm mười triệu chín trăm tám mươi ba nghìn năm trăm đồng). Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy tài sản trộm cắp được làm nguồn sống chính. Hơn nữa, bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/11/2022, chưa được xóa án tích lại cố ý thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản nêu trên.
    • [2] Hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Thanh T thuộc tình tiết định khung “Có tính chất chuyên nghiệp”, “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
    • [3] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đối với bị cáo T là có phần nghiêm khắc, nên cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
    • 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    • 4. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Hồ Thanh T được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Thanh T và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    • - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.

    1. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Hồ Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
    • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
    • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
    • - TAND H. Diên Khánh;
    • - VKSND H. Diên Khánh;
    • - CQTHAHS - Công an tỉnh Khánh Hòa;
    • (qua TAND H. Diên Khánh);
    • - Phân trại tạm giam Khu vực Diên Khánh;
    • - Chi cục THADS H. Diên Khánh;
    • - Bị cáo, những người TGTT;
    • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    [Ký tên]

    THÔNG TIN BẢN ÁN

    Bản án số 71/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

    • Số bản án: 71/2025/HS-PT
    • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
    • Cấp xét xử: Phúc thẩm
    • Ngày ban hành: 19/06/2025
    • Loại vụ/việc: Hình sự
    • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
    • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
    • Đính chính: Đang cập nhật
    • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thanh Tùng - Khoản 2 Điều 173
    Tải về bản án
    Hỗ trợ trực tuyến
    Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger