Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-11-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Thành Đông
  2. Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2025/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 121/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh Đ, sinh năm: 1990.
    Địa chỉ: số B, ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ trước khi sáp nhập: số B, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre).
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm: 1988.
    Địa chỉ: ấp T, xã C, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ trước khi sáp nhập: ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre).

Tại phiên tòa, bà Đ, ông K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại bản tự khai, nguyên đơn là bà Võ Thị Thanh Đ trình bày:

Về hôn nhân: bà và ông Trần Văn K cùng tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08/10/2014 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 68/2014 Quyển số I/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến đầu năm 2025 ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống. Bà và ông K đã ly thân từ đó đến nay. Hiện nay, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được. Do đó, bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn K.

Về con chung: bà và ông K có 01 con chung là Trần Võ Anh T, sinh ngày 22/02/2016, hiện nay đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con .

Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông K.

Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

  1. Về tố tụng:
  2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

    Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về nội dung:
  4. Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh Đ, cụ thể:

    • Về hôn nhân: bà Võ Thị Thanh Đ được ly hôn với ông Trần Văn K.
    • Về con chung:
    • Giao con chung là Trần Võ Anh T, sinh ngày 22/02/2016 cho bà Võ Thị Thanh Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

    • Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà Võ Thị Thanh Đ không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không xem xét giải quyết.
    • Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn hân và gia đình: bà Võ Thị Thanh Đ phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: bà Võ Thị Thanh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Trần Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Đ và ông K.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Đ và ông K chung sống trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 08/10/2014 nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bà Đ cho rằng trong quá trình chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã. Do bà Đ nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông K được nữa nên bà có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo các phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho bà Đ và ông K đoàn tụ nhưng ông K đều vắng mặt. Như vậy, tuy biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng ông K đã không tham gia, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân của bà Đ và ông K. Mặc khác, bà Đ và ông K đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2025 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau như vợ như chồng, không có thời gian đoàn tụ. Điều này chứng tỏ, tình trạng hôn nhân của bà Đ và ông K đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Đ là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: bà Đ và ông K có 01 con chung là Trần Võ Anh T, sinh ngày 22/02/2016. Xét thấy: từ khi bà Đ và ông K sống ly thân cho đến nay, bà Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Anh T, bà Đ vẫn đảm bảo tốt quyền và lợi ích của con chung. Ông K cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Đ về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của con chung nên giao con chung cho bà Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên, bà Đ không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà Đ, không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.

[2.5] Về án phí: bà Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh Đ. Bà Võ Thị Thanh Đ được ly hôn với ông Trần Văn K.
  2. Về con chung: ghi nhận bà Võ Thị Thanh Đ và ông Trần Văn K có 01 con chung là Trần Võ Anh T, sinh ngày 22/02/2016.

    Giao con chung là Anh T cho bà Võ Thị Thanh Đ được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi Anh T đủ 18 tuổi.

    Ghi nhận việc bà Võ Thị Thanh Đ không yêu cầu ông Trần Văn K cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Võ Thị Thanh Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đ đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003736 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh V; bà Đ đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Châu Hòa;
  • - VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Đang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 71/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger