Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh và ông Trần Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 05 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐ - ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 2001
  • HKTT: Thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.
  • Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Ngọc D, sinh năm 1998;
  • Địa chỉ: Thôn An Lợi, xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
  • Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Ngọc D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Đ tại Nhật Bản ngày 11/3/2024. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng thuê nhà và chung sống cùng nhau tại Nhật Bản tuy nhiên cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt là từ khi chị sinh cháu Đỗ Nhật N. Chị và anh D không tìm được tiếng nói chung, anh D không quan tâm chăm sóc, chia sẻ và đỡ đần chị nuôi con, bản thân chị đã nhiều lần nói chuyện với anh D để mong muốn vợ chồng tìm được sự cảm thông với nhau nhưng không có kết quả. Việc vợ chồng mâu thuẫn cũng đã được bố mẹ hai bên khuyên bảo động viên nhưng không có kết quả, vì vậy cuối năm 2024 chị đã đưa con về Việt Nam và về sống cùng bố mẹ đẻ chị tại xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, vợ chồng chị sống ly thân từ thời điểm đó đến nay, không ai còn liên lạc với ai. Đến nay chị cảm thấy cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng có quá nhiều bất đồng không thể hàn gắn, vì vậy chị làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Nhật N sinh ngày 5/8/2024, hiện đang sống cùng chị và bố mẹ chị là ông Ngô Văn D1 và bà Nguyễn Thị T1. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh D phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con, đề nghị tạm giao con N cho bố mẹ chị là ông D1 và bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài.

Về tài sản chung: Chị và anh Dương T2 thống nhất thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh D không vay nợ ai, không đề nghị Toà án giải quyết.

* Đối với Bị đơn anh Đỗ Ngọc D: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án cho bà Đào Thị M (mẹ đẻ anh D) thông qua gia đình anh D, quan điểm của anh D đồng ý ly hôn với chị T nhưng anh D không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Tòa án.

* Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã S thể hiện: Anh Đỗ Ngọc D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Hiện anh D đang đi lao động tại Nhật Bản. Anh D có làm thủ tục kết hôn với chị Ngô Thị T tuy nhiên vợ chồng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình mà làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Đ tại Nhật Bản. Sau khi kết hôn vợ chồng không có thời gian chung sống tại gia đình anh D ở thôn A, xã S, huyện V nên địa phương không nắm được quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Nay chị T làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh D, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết thủ tục ly hôn, con chung, tài sản của đương sự theo quy định pháp luật.

* Tại biên bản ghi lời khai của bà Đào Thị M (mẹ đẻ anh D) trình bày: Vợ chồng anh D và chị T tìm hiểu và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Đ tại Nhật Bản. Sau khi cưới vợ chồng thuê nhà và cùng sinh sống tại Nhật Bản. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai không chia sẻ, cảm thông được với nhau trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên tranh cãi, mâu thuẫn. Bà đã nhiều lần khuyên bảo hai vợ chồng để cả hai cùng suy nghĩ hàn gắn quan hệ vợ chồng, cùng nhau nuôi dạy con nhưng không có kết quả . Khi chị T sinh cháu N bà có sang chăm sóc đỡ đần vợ chồng một thời gian, sau đó khi vợ chồng ly thân thì chị T đưa con về Việt Nam và nhờ bố mẹ đẻ chăm sóc. Anh D đã biết việc chị T làm thủ tục ly hôn, quan điểm của anh D là nhất trí ly hôn, nhất trí để chị T nuôi con chung là cháu Đỗ Nhật N, nếu sau này chị T nuôi con không đảm bảo anh D cũng như gia đình bà sẽ đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con và đón cháu N về nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Anh D đi lao động tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể bà không rõ nhưng anh D vẫn thường xuyên liên lạc với bà. Bà M đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và sẽ có trách nhiệm thông báo lại ngay nội dung cho anh D.

Ông Ngô Văn D1 và bà Nguyễn Thị T1 (bố mẹ đẻ chị T) trình bày: Ông bà không có ý kiến gì về việc chị T làm thủ tục ly hôn anh D, vì cả hai đều đã trưởng thành, tự có trách nhiệm với các quyết định của mình. Chị T và anh D có 01 con chung là cháu Đỗ Nhật N sinh ngày 05/8/2024. Hiện nay, cháu N đang ở với vợ chồng ông bà tại thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, cháu khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Do chị T đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên nếu chị T và anh D ly hôn, ông bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhật N trong thời gian chị T ở nước ngoài cho đến khi chị T về nước. Ông bà không yêu cầu chị T thanh toán cho ông bà khoản chi phí nào.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Đỗ Ngọc D, giao con cháu Đỗ Nhật N sinh ngày 05/8/2024 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị T. Chấp nhận việc ông Ngô Văn D1 và bà Nguyễn Thị T1 thay chị T chăm sóc con Nhật Nam trong thời gian chị T ở nước ngoài.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn là anh Đỗ Ngọc D có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh D đang cư trú tại Nhật Bản. Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã S nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị T và anh D tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, mặt khác vợ chồng lại sống xa cách nhau, mỗi người một nơi nên không có tiếng nói chung và không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân của chị T và anh D không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị T và anh D có 01 con chung là Đỗ Nhật N sinh ngày 05/8/2024. Chị T có nguyện vọng nuôi con chung, và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Thông qua gia đình quan điểm của anh D nhất trí để chị T nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thực tế, con Nhật N đang ở cùng với bố mẹ đẻ chị T, Ông Ngô Văn D1 và bà Nguyễn Thị T1 (bố mẹ đẻ chị T) đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng con Nam giúp chị T trong thời gian chị T đi lao động ở nước ngoài. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con Nhật Nam cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không đề nghị anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và tiền cấp dưỡng nuôi con chung được giải quyết khi các bên đương sự có đơn yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: Chị T và anh D không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Đỗ Ngọc D.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung Đỗ Nhật N sinh ngày 05/8/2024 cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị T ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Ô Ngô Văn D1 sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T1 sinh năm 1973 địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội chăm sóc, nuôi dưỡng con Nhật Nam đến khi chị T về Việt Nam.

    Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

    Chị T và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.

  3. Về quan hệ tài sản: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai số 0000492 ngày 03/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Ngô Thị T, bị đơn anh Đỗ Ngọc D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Các Đương sự;
  • - THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án,
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 71/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án ly hôn sơ thẩm Ngô Thi Thuy- Đỗ Ngọc Dương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger