Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 23 - 6 - 2025.

"V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Hoàng Tha.

Bà Trần Thị Thanh Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lâm Ngọc Việt N, sinh năm 2004; địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Kim Thị Thanh D, sinh năm 2005; địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 05/5/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lâm Ngọc Việt N trình bày: Vào năm 2019, ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 09/4/2024. Sau khi kết hôn ông N và bà D sống hạnh phúc đến ngày 04 tháng 9 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung trong cuộc sống gây ra nhiều mâu thuẫn đến cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được. Ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình chung sống ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D có một người con chung tên Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lâm Ngọc Việt N yêu cầu ly hôn với bà Kim Thị Thanh D; về con chung yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022 đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung không có nên ông N không yêu cầu gì.

- Đối với bị đơn bà Kim Thị Thanh D: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà D, nhưng bà D không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà D để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng bà D vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn bà Kim Thị Thanh D đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn bà Kim Thị Thanh D chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N; về con chung: giao cháu Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, bà D không cấp dưỡng cho cháu Á; về tài sản chung không có nên không đặt ra xem xét, về nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/5/2025 và tại phiên tòa ông Lâm Ngọc Việt N trình bày: Ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 09/4/2024. Ông N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022 đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung không có nên ông N không yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong vụ án, bị đơn bà Kim Thị Thanh D hiện đang cư trú tại ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Bị đơn bà Kim Thị Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà D.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, ông Lâm Ngọc Việt N và bà Kim Thị Thanh D tự nguyện kết hôn và được UBND xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 09/4/2024 nên quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà D là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông N, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung sống ông, bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cãi vã qua lại, mâu thuẫn kéo dài, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, luôn bất hòa. Ông N và bà D đã sống ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2014 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông N và bà D có gặp nhau nhưng không hàn gắn tình cảm được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông N và bà D đoàn tụ với nhau nhưng bà D vẫn vắng mặt và ông N vẫn kiên quyết ly hôn với bà D vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông N và bà D đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của ông N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông N được ly hôn với bà D.

[4]. Về con chung: Ông Lâm Ngọc Việt N xác định trong thời gian chung sống, ông N và bà Kim Thị Thanh D có 01 người con chung là Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022, hiện cháu Á đang sống chung với ông N; ông N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Á đến khi cháu Á đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi ông N và bà D không sống chung với nhau cho đến nay cháu Á do ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Á, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu Á cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Kim Thị Thanh D mà không ai được cản trở.

[5]. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Lâm N1 Việt Nam không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Về tài sản chung: Ông Lâm Ngọc Việt N xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7]. Về nợ chung: Ông Lâm Ngọc Việt N xác định trong thời gian chung sống bà T và bà Kim Thị Thanh D không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ông Lâm Ngọc Việt N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Kim Thị Thanh D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Ngọc Việt N.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm Ngọc Việt N được ly hôn với bà Kim Thị Thanh D.
    2. Về con chung: Giao cháu Lâm Ngọc Khả Á, sinh ngày 20/6/2022 cho ông Lâm Ngọc Việt N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Á đủ 18 tuổi. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho bà Kim Thị Thanh D mà không ai được cản trở.
    3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Lâm N1 Việt Nam không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
    4. Về tài sản chung: Ông Lâm Ngọc Việt N xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
    5. Về nợ chung: Ông Lâm Ngọc Việt N xác định trong thời gian chung sống ông N và bà Kim Thị Thanh D không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Ngọc Việt N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009358 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, ông Lâm Ngọc Việt N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Bà Kim Thị Thanh D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - UBND xã T;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P. TTr,KT&THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HNGĐ - ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 71/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger