|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Bà Thái Ánh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1990
- Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1991
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Chổ ở hiện nay: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
(Bà P có mặt, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương trình B:
Bà và ông L quen biết nhau và tiến tới hôn nhân, kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 374 ngày 14/10/2013. Sau khi kết hôn và sống chung, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Dần về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, bà nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: bà trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng P1 (nam), sinh ngày 18/02/2012 và Nguyễn Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 24/11/2016. Hiện tại hai con đang sống với bà và bà mẹ ruột của bà.
Về tài sản chung, nợ chung không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng L vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được lời khai
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.
Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc sống vợ chồng bà P, ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Bà P cũng không còn tình cảm với ông L. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, đề nghị chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông L.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng P1 (nam), sinh ngày 18/02/2012 và Nguyễn Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 24/11/2016. Hiện tại hai con đang sống với bà P và bà mẹ ruột của bà. Các cháu đều có nguyện vọng sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà P, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, các bên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Hoàng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà P, ông L được xác lập trên cơ sở tự nguyện; Sau khi kết hôn và sống chung, gia đình hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng cãi vã mặc dù cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không giải quyết được. Vì vậy, thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông L là phù hợp.
[3] Về con chung: bà P trình bày có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng P1 (nam), sinh ngày 18/02/2012 và Nguyễn Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 24/11/2016. Hiện tại hai con đang sống với bà và bà mẹ ruột của bà, đồng thời hai hai con cũng có nguyện vọng sống với bà khi cha mẹ ly hôn. Do đó yêu cầu của bà được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con đến khi thành niên, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung thấy rằng: nguyên đơn trình bày không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét các mối quan hệ này.
Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt là có cơ sở.
[5] Về nghĩa vụ chịu án phí: Do đây là vụ án xin ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị P
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng L.
- Về con chung: nguyên đơn được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hoàng P1 (nam), sinh ngày 18/02/2012 và Nguyễn Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 24/11/2016 đến khi thành niên (18) tuổi, bị đơn không cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm con cho bị đơn theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí về tranh chấp hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005943 ngày 13/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Bà P đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Văn Khải |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Viết Ngoan Thái Ánh Trinh |
Phan Văn Khải |
Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 71/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
