|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 71/2025/HNGĐ - ST. Ngày: 11/3/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Bảo Long.
Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thái
Ông Hoàng Văn Long
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 493/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2024 về việc tranh chấp ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23 tháng 01 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa 29/2025/QÐST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Mỹ H – sinh năm 1980; Nơi thường trú và nơi cư trú: Tổ A Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D – sinh năm 1975; Nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số B, ngõ E đường T, Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại Tòa án nguyên đơn – Chị Ngô Thị Mỹ H trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Nguyễn Tiến D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/5/1999 tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì chị phát hiện ra việc anh D ngoại tình. Chị đã tha thứ cho anh D nhưng đến năm 2021 thì chị lại phát
hiện anh D ngoại tình lần 2. Tuy nhiên sau đó anh D vẫn tiếp tục ngoại tình và chính nhân tình của anh D đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện khủng bố tinh thần chị và các con, yêu cầu chị ly hôn anh D để họ đến với nhau. Đến nay chị nhận thấy khi chị càng tha thứ thì tình cảm vợ chồng lại càng lạnh nhạt hơn. Anh chị sống ly thân từ ngày 12/9/2024 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.
Về con chung: Chị xác nhận chị và anh Nguyễn Tiến D có 02 con chung là Nguyễn Duy Tiến T, sinh ngày 14/9/2000 và Nguyễn Duy Minh A, sinh ngày 20/9/2007.
Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Minh A và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
Về tài sản chung, nợ chung, nhà và đất chung: Chị xác nhận chị và anh D không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần tuy nhiên anh Nguyễn Tiến D vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến và cũng không có đơn xin vắng mặt gửi Toà án.
Tại phiên tòa chị Ngô Thị Mỹ H về cơ bản vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã trình bày trong quá trình tham gia tố tụng trước đây. Chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Duy Minh A. Chị không yêu cầu anh D đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang là chủ cơ sở giáo dục M với thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/ tháng. Cháu Nguyễn Duy Tiến T đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định.
Đại diện viện kiểm sát nhân huyện T, thành phố Hà Nội, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
1. Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về phiên toà sơ thẩm (Điều 223, Điều 224, Điều 225 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015); Đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Điều 12 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Thành phần Hội đồng xét xử đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
2. Về nội dung vụ án:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 262 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Ngô Thị Mỹ H. Chị Ngô Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.
Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Duy Minh A, sinh ngày 20/9/2007 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Anh Dũng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Cháu Nguyễn Duy Tiến T đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Tiến D đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản, nợ chung và nhà, đất chung: Anh chị không có tài sản, nợ chung hay nhà, đất chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Anh Nguyễn Tiến D có nơi thường trú tại Số B, ngõ E đường T, Xóm T, xã T, huyện T, Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tống đạt, trao đổi với trưởng thôn T1 và cảnh sát khu vực xã T được biết anh Nguyễn Tiến D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, Hà Nội nhưng hiện tại đã bán nhà đi nơi khác, không có mặt tại nơi cư trú, không thông báo về việc tạm vắng cũng như nơi ở hiện tại đến cơ quan quản lý nhà nước về cư trú là công an xã T.
Vì vậy Tòa án xác định địa chỉ tại Số B, ngõ E đường T, Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội là nơi cư trú cuối cùng của anh D. Nhận thấy người khởi kiện là chị Ngô Thị Mỹ H đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của anh D trước khi anh D chuyển đi. Anh Dũng thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền là trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn nên Tòa án xác định bị đơn đã cố tình giấu địa chỉ, tiến hành các thủ tục thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án và giải quyết vụ án vắng mặt anh Nguyễn Tiến D theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Ngô Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tiến D là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định vợ chồng chị Ngô Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tiến D trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và lối sống không phù hợp. Anh Dũng có mối quan hệ ngoài hôn nhân, hai bên không tìm được tiếng nói chung và thiếu sự quan tâm, chia sẻ, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh D đến để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải tuy nhiên do anh D vắng ở địa phương, không thông báo về việc thay đổi nơi cư trú cho chính quyền địa phương và gia đình nên không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng.
Việc anh D thay đổi địa chỉ cư trú, không có mặt theo giấy triệu tập của tòa án để tham gia tố tụng, cũng không có bất cứ liên hệ trực tiếp nào với chị H và gia đình thể hiện việc anh không có sự quan tâm cần thiết đến cuộc sống hôn nhân và không có ý thức vun đắp, hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị Ngô Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tiến D không đạt được khiến cho mâu thuẫn giữa anh, chị ngày càng trầm trọng và không thể hoà giải.
Nay chị Ngô Thị Mỹ H có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Tiến D, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung:
Chị Ngô Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tiến D có 02 con chung là Nguyễn Duy Tiến T, sinh ngày 14/9/2000 và Nguyễn Duy Minh A, sinh ngày 20/9/2007, hiện đang ở với chị. Cháu Nguyễn Duy Tiến T đã trưởng thành, tự lập. Cháu Minh A có nguyện vọng được ở với mẹ và chị H cũng có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu sau khi ly hôn.
Chị H hiện đang là chủ cơ sở giáo dục M với thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/ tháng, có đầy đủ điều kiện để nuôi con, đảm bảo được sự phát triển ổn định, toàn diện của cháu.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh D không trình bày nguyện vọng nuôi con, không có mặt tại phiên tòa cũng như không xuất trình các tài liệu chứng cứ để chứng minh khả năng và điều kiện nuôi con. Hội đồng xét xử thấy giao cháu Minh A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh D đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự
thay đổi khác là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Dũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất:
Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí: Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: chị H và anh D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ H.
- Chị Ngô Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.
- Về con chung: Chị Ngô Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tiến D có 02 con chung là Nguyễn Duy Tiến T, sinh ngày 14/9/2000 và Nguyễn Duy Minh A, sinh ngày 20/9/2007. Cháu Nguyễn Duy Tiến T đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định. Giao con chung là cháu Nguyễn Duy Minh A, sinh ngày 20/9/2007 cho chị Ngô Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Tiến D đến khi cháu Minh A trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Nguyễn Tiến D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0056350 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Mỹ H có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Nguyễn Tiến D vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảo sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
6
Bản án số 71/2025/HNGĐ - ST. ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2025/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ H.
