TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/HN&GD-ST
Ngày: 18 - 6 - 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Quang Sô.
- Bà Trần Thị Út .
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Mi – Thư ký Tòa án nhân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 64/2025/TLST - HN&GĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 96/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mã Thành T, sinh năm: 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thanh T1, sinh năm: 1983. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mã Thị H, sinh năm: 1983. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/12/2024 và tại phiên toà nguyên đơn ông Mã Thành T trình bày: Vào năm 2020 ông và bà Trần Thanh T1 kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 22/10/2020 tại Ủy ban nhân xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do ông và bà T1 tự nguyện. Ông và bà T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, bà T1 bỏ nhà đi không rõ lý do. Ông và bà T1 đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Do cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Mã Trường A (nam), sinh ngày 12/7/2021 con chung hiện nay do ông nuôi dưỡng, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu bà T1 cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Nợ chị ruột Mã Thuý Hằng số tiền 30.000.000 đồng ông yêu cầu mỗi người trả ½.
Bị đơn bà Trần Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại văn bản ngày 29/4/2025 và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mã Thị H trình bày: Tháng 6/2024 ông T bà T1 có mượn của bà số tiền 48.000.000 để mua thức ăn. Bà tự thoả thuận với ông T, bà T1 chưa yêu cầu ông T bà T1 trả số tiền trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Trần Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà T1.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Mã Thành T và bà Trần Thanh T1 kết hôn năm 2020 và có đăng ký kết hôn ngày 22/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định nên hôn nhân giữa ông T và bà T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Ông T bà T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi bà T1 bỏ nhà đi không rõ lý do, ông T bà T1 đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Từ khi ly thân đến nay ông ông T bà T1 không có thiện chí hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải để hàn gắn cuộc sống vợ chồng giữa ông T bà T1 nhưng tại phiên toà ông T cương quyết ly hôn và bà T1 vắng mặt. Điều đó cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa ông T bà T1 không thể hàn gắn, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Ông T bà T1 có 01 con chung tên Mã Thành A1 (nam), sinh ngày 12/7/2021 con chung hiện nay do ông T nuôi dưỡng, khi ly hôn ông T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu bà T1 cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Mã Thành A1 đến thời điểm xét xử mới 04 tuổi, từ khi ly thân năm 2024 đến nay thì cháu A1 do ông T trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu A1 cho ông T nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.
[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về nợ chung: Ông T trình bày có nợ bà Mã Thị Hằng S tiền 30.000.000 đồng, tại văn bản ngày 29/4/2025 và tại phiên toà bà H trình bày ông T bà T1 có mượn số tiền 48.000.000 đồng để mua thức ăn. Tuy nhiên bà H tự thoả thuận với ông T bà T1 chưa yêu cầu ông T bà T1 trả, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ liện khác.
[7] Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 9, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Mã Thành T. Cho ông Mã Thành T được ly hôn với bà Trần Thanh T1.
Về con chung: Giao cháu Mã Trường A (nam), sinh ngày 12/7/2021 cho ông Mã Thành T tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Trần Thanh T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho bà Trần Thanh T1 không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Nếu bà Mã Thị H có tranh chấp với ông Mã Thành T bà Trần Thanh T1 số nợ 48.000.000 đồng thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Mã Thành T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng ông T đã nộp theo biên lai thu số 0010546 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Ông T đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn ông Mã Thành T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Mã Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/6/2025. Bị đơn bà Trần Thanh T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 71/2025/HN&GD-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2025/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
