|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2025/DSST Ngày 21 tháng 02 năm 2025 “V/v Tranh chấp đòi lại tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân.
2. Ông Võ Văn Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có: Bà Võ Hà Anh Thư – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14/02/2025 và 21/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 304/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17A/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước N, sinh năm: 1954;
Địa chỉ: số B ấp L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của ông N có bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1959; (có mặt)
Địa chỉ: C N, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1969. (có mặt)
Địa chỉ: số A đường B, tổ D, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1654; (có mặt)
Địa chỉ: số B ấp L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Phước N trình bày:
Nguyên vào năm 2020 ông cùng bà T có hợp đồng giao dịch mua bán đất đai giữa ông Nguyễn Phước N, bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị Hồng T, phần diện tích đất là: 6.777 m², thửa đất số: 226, tờ bản đồ số: 32 đất tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện C tỉnh Tây Ninh. Nhưng sau đó hợp đồng không thành đến tháng 03 năm 2021 thì tại Tòa án nhân huyện C đã hòa giải và đã có quyết định hòa giải thành công số 20/2021/QĐST-DS ngày 08/03/2021 là hai bên đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 25/8/2021. Sau khi ông nhận lại đất và tài sản trên đất của thì ông phát hiện tài sản trên đất của ông đã bị bà T chuyển đi hết bao gồm những tài sản sau:
- + 01 Máy phát điện năng lượng mặt trời.
- + Ghe mũ máy săn 10 ngựa
- + 10 Trại cột xi măng lợp tole, mỗi trại 1000 m².
- + 03 máy dầu hiệu Sato của Nhật bản sản xuất.
- + 02 Máy xăng cơ bơm nước có vây đáy 5,5 ngựa.
- + 200 cây dừa đang thu trái.
- + 03 cái ao đang nuôi cá mỗi cái 1000 m².
- + 01 bếp ga, 01 bình ga, 01 chảo nấu ăn.
- + 07 lòng sắt nuôi gà con ngang 1,5m dài 3m.
- + 03 cái cân 2 cái 100kg, 01 cái 0,5kg.
- + 01 cái bình xịt cỏ, 03 cái rựa, 01 cái búa lớn, 01 cái búa nhỏ, 01 thùng đựng chìa khóa.
- + 03 cuộn dây tưới nước 100m/cuộn.
- + 01 thùng xe lôi, 300m dây điện lớn.
- + 03 cây rựa, 03 cây cuốc.
- + 05 ống nhựa mới hiệu bình minh.
- + khoảng 300 con gà cao Lãnh, 100 con gà tre.
- + 01 cái tivi 20in, xài bằng ăng ten mặt đất.
- + 01 ống dây bơm nước 01 tấc dài 20m.
Tổng số tiền của phần tài sản này là: 350.000.000 đồng.
Hiện tại bà T đã di chuyển hết tất cả những phần tài sản nói trên của ông, dừa đã bán hết trái, gà cũng không còn con nào.
Vậy nay ông làm đơn này kính gửi lên Tòa án nhân huyện C xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải có trách nhiệm bồi thường lại số tài sản bà T đã chuyển đi bán với số tiền là: 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Vào năm 2020, ông N và bà Nguyễn Thị L1 có bán bà Phạm Thị Hồng T1 (01 phần đất diện tích là 6777m2, thửa đất số 226, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Sau đó hợp đồng mua bán không thành công. Đến tháng 3 năm 2021, ông N, bà L1, bà T1 có thỏa thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bên ông N, bà L1 có trả lại bà T1 300.000.000 đồng tiền đặt cọc.
Sau khi tiếp nhận lại đất, ông N mới hay biết và T1 đã bán hết đồ đạc, vật dụng, máy móc và súc vật nuôi trong trang trại.
Khi làm giấy mua bán, bà T1 chưa trả hết tiền ông N, bà L1, có thuê ông Bùi Văn T2 giữ trại. Khi ông N, bà L1 ra về thì tài sản trong trang trại còn nguyên vẹn và ông T2 có đòi tiền thuê giữ đất mỗi tháng là 4.000.000 đồng từ ngày 05/10/2020 đến ngày 05/01/2021. Tổng cộng là 24.000.000 đồng (có giấy nhận tiền của ông T2).
Đến khi ông N vào tiếp nhận thì tài sản không còn gì, và ông N được biết bà T1 đã bán hết, nên ông N đã báo Công an xã T và đem về được 02 máy bơm dầu bơm nước.
Ngoài ra còn những tài sản khác thì yêu cầu trả tiền buộc bà Nguyễn Thị Hồng T phải trả cho ông N những tài sản trên theo chứng cứ mà ông N, bà L1 đã nộp cho Tòa án.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Hợp đồng ủy quyền; bản sao CMND + HK, đơn khởi kiện, bản pho to quyết định hòa giải thành, giấy đặt cọc, giải trình chứng cứ, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu xác minh, xác nhận, bản cam kết, bảng báo giá đèn năng lượng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Hiện, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết theo thông báo số 253/TB-TA ngày 02/11/2021 trong vụ án “Tranh chấp đòi tài sản”. Theo Thông báo này thì phía ông Nguyễn Phước N yêu cầu bà (Nguyễn Thị Hồng T) phải trả lại tài sản bằng tiền là: 350.000.000 đồng. Bà có ý kiến sau:
1/ Theo giấy nhận đặt cọc giữa bà (Nguyễn Thị Hồng T) và ông Nguyễn Phước N, bà Nguyễn Thị L1 ngày 25 tháng 8 năm 2020, ông N và bà L1 có cam kết với bà là tất cả tài sản trong khu đất mà ông N, bà L1 đã bán cho bà gồm các tài sản như sau: 30 con gà khoảng 1,5 kg và 2 kg, 03 con vịt con và 01 chiếc xà lan, 01 chiếc xuồng, 3 cái máy bơm nước, 3 bồn nước.. cùng đồ dùng trong trang trại. Ông N và bà L1 đi ra 2 bàn tay không.
Trong 300 con gà mà ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1 ký giấy cho bà vào ngày 25/8/2020 đến ngày 27/8/2020, ông N đã đến bắt đi 30 con gà khoảng 1,5 kg đến 2,5 kg chỉ còn lại 30 con gà con và 40 cái trứng đang ấp.
Theo giấy giao nhận cọc ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1 có ghi rõ là từ ngày 26/8/2020 đến ngày 26/9/2020 mà ông N và bà L1 không ra sổ đỏ mang tên Nguyễn Thị Hồng T thì ông N, bà L1 đã cam kết đến ngày 26/9/2020, ông N và bà L1 sẽ lấy lại một miếng đất trống còn tất cả ông N, bà L1 sẽ cho bà tất cả, ông N có ký tên cam kết rõ ràng. Đến ngày 08/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã giải quyết do ông N, bà L1 không làm được sổ đỏ cho bà (Nguyễn Thị Hồng T) đứng tên nên ông N, bà L1 tự nguyện trả lại cho bà số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
2/ Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà và ông N, bà L1 theo Thông báo thụ lý số 331/2021/TLST-DS ngày 23/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tại sao phía ông Nguyễn Phước N, bà Nguyễn Thị L1 không khởi kiện bà (Nguyễn Thị Hồng T) yêu cầu bà bồi thường những thiệt hại về tài sản có trên đất tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, trong cùng một vụ án, mà lại có sự mâu thuẫn. Bởi vụ án trước đây Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết về: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mà ông N cũng là nguyên đơn đã đồng ý giao cho bà số tiền: 300.000.000 đồng, và ông N đã mang đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành nộp số tiền là: 300.000.000 đồng (thể hiện Quyết định số 20/2021/QĐST-DS ngày 08-03-2021 của TAND huyện Châu Thành, về việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, và Quyết định số 03/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15-11-2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành).
Theo biên bản hòa giải thành lập ngày 26/02/2020 giữa bà và ông N, bà L1 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công nhận sự hòa giải thành giữa bà và ông N, bà L1 trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, phía ông N, bà L1 đồng ý trả lại cho bà số tiền là 300.000.000 đồng đây là sự thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện giữa nguyên đơn và bị đơn.
Vì vậy, ngày 08 tháng 3 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành ra Quyết định số 20/2021/QĐST về việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự giữa ông Nguyễn Phước N, Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị Hồng T. Quyết định có nội dung: Ông Nguyễn Phước N, bà Nguyễn Thị L1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Hồng T số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
Sau đó, ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1 đã nộp tiền số 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành để giao trả lại cho bà số tiền nêu trên theo quyết định số 20/2021/QĐST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2020 mà Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên.
3/ Khi bà đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành để nhận tiền theo Quyết định số 20/2021/QĐST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, thì bà mới biết phía ông Nguyễn Phước N lại là nguyên đơn đang khởi kiện bà (Nguyễn Thị Hồng T) một vụ kiện mới mà bà cũng lại là bị đơn tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành trong vụ án “Tranh chấp đòi tài sản” theo thông báo số 253/TB-TA ngày 02/11/2021.
Ông Nguyễn Phước N có đơn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành ban hành Quyết định số 03/2021/QĐ- BPKCTT ngày 15 tháng 11 năm 2021, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ theo quy định tại điều 125 của Bộ luật tố tụng dân sự: Phong tỏa số tiền là 300.000.000 (Ba trăm triệu đồng), hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang giữ số tiền 300.000.000 đồng.
4/ Kết luận: Bà hoàn toàn không đồng ý theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Phước N yêu cầu phải bà bồi thường thiệt sản tài sản có trên đất với số tiền là 350.000.000(Ba trăm năm mươi triệu) đồng. Vì theo giấy đặt cọc đất ngày 25/8/2020, phía ông N, bà L1 đồng ý cho bà tất cả tài sản có trên đất như gà, vịt, nồi, niêu, xoang, chảo, bồn nước, máy bơm nước, xà làn, xuồng... ông N và bà L1 sẽ ra đi hai bàn tay trắng.
Bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước N.
Ngày 14/07/2022, bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Ngày 22/8/2020, bà có mua miếng đất của ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1, đất tọa lạc tại: xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trên mảnh đất có một trang trại với 30 con gà từ nhỏ đến lớn, một chiếc xà lan, 3 máy bơm, một chiếc ghe với giá là 1.600.000.000 (Một tỷ, sáu trăm triệu) đồng, bà đặt cọc số tiền là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng tại địa chính huyện C. Đến ngày 26/9/2020, tôi (Nguyễn Thị Hồng T) trả cho ông N số tiền là 1.300.000.000 (Một tỷ, ba trăm triệu) đồng. Còn ông N thì ra bằng khoán tên của bà. Đến ngày 26/9/2020 bà đem tiền lên tại xã T, tìm ông N và bà L1 để trả tiền lấy bằng khoán về nhưng bà kiếm ông N, bà L1 cả buổi sáng cuối cùng bà phải nhờ Công an ấp điện và làm biên bản dùm bà là bà có đem tiền đến đưa cho ông N và bà L1 nhưng không gặp. Sau đó, bà về nhà.
Mấy tháng sau thì bà có nhận được đơn ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành mời bà tới làm việc lý do là ông N và bà L1 nói bà ăn cắp gà, xà lan, ghe..., mà trước đó ông N đã làm cam kết cho bà nhưng thật sự là bà không có ăn cắp những món đồ đó, những người chủ gửi cho ông N nhưng ông N tự tiện làm giấy cho bà, sau đó những người chủ đã đến lấy lại những món đồ đó.
Nay, bà làm đơn này kính gửi Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét, giải quyết yêu cầu sau: Yêu cầu ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1 trả lại cho lại cho bà số tiền là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và tính lãi suất theo quy định của Nhà nước. Yêu cầu ông N và bà L1 trả số tiền trên một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 06/08/2024, bà Nguyễn Thị Hồng T có đơn yêu cầu phản tố với nội dung như sau:
Bà yêu cầu ông Nguyễn Phước N bồi thường tiền bà thuê xe ôm, tiền tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập từ ngày 15-11-2021 cho đến ngày 06-8- 2024, cụ thể như sau:
- + Tiền thuê xe ôm: 40.000.000 đồng.
- + Tiền tổn thất tinh thần: 20.000.000 đồng.
- + Tiền mất thu nhập từ ngày 15-11-2021 đến ngày 06-8-2024 là 32 tháng x 200.000 đồng/ngày = 64.000.000 đồng.
Tổng cộng là 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng).
Nay, bà làm đơn này kính gửi đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét, giải quyết yêu cầu sau: Buộc ông Nguyễn Phước N có trách nhiệm phải bồi thường cho bà số tiền là 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng).
Các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: bản sao CMND + HK, đơn yêu cầu xác minh, đơn xin cam kết, hợp đồng vay tiền, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đơn yêu cầu giám định, đơn yêu cầu đưa người làm chứng, đơn xác nhận, đơn yêu cầu phản tố, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, phiếu kết quả xét nghiệm, đơn thuốc, biên lai viện phí, bảng kê chi phí điều trị nội trú.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Bà tên Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954, hiện trú tại Số B, đường B, Nguyễn Văn L2, tổ A, T, T, Hòa THành T. Bà xin tự khai như sau: Trước Tòa mọi ý kiến của chồng bà tên Nguyễn Phước N sinh năm 1954, ngụ tại B N, L, L, H, Tây Ninh là ý kiến của bà.
Những chứng cứ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp gồm: bản tự khai, đơn xin vắng mặt.
Người làm chứng, ông Lê Thanh L3 trình bày:
Năm 2020 giữa ông N và bà T có mua bán đất với nhau. Bà T có đặt cọc cho ông N là 300.000.000 đồng. Lý do hai bên không thỏa thuận làm đơn và ấp giải quyết 3 lần. Không đồng ý chuyển lên Tòa án giải quyết. Ông N có ủy quyền cho bà T về ở trong khi đó những tài sản của ông N là địa phương không biết có tài sản của người dân gởi như máy bơm nước và ghe của ai lấy về, không có người dân nào khiếu nại và sự việc này là ba năm nay tưởng là giải quyết xong.
Người làm chứng, ông Lê Văn V trình bày:
Năm 2020, ông có hòa giải vụ khiếu nại về mua bán đất đai giữa ông N và bà T đất đai hiện tọa lạc tại khu trảng đường ấp T. Ông hòa giải và thống nhất đề nghị ông N tiến hành làm giấy cho bà T sau khi đã nhận tiền đặt cọc (số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng) trong thời gian 30 ngày khi làm giấy đến xã, bên bà T trả tiền đủ. Nhưng quá 30 ngày, ông N không đến xã làm thủ tục, dẫn đến bà T đòi lại tiền cọc trước đây là T đã đặt cọc nhưng đến nay không biết bà T có nhận tiền đặt cọc hay chưa. Riêng vấn đề tài sản mà ông N bàn giao cho bà T không rõ, còn vấn đề một số máy móc nông nghiệp như: xà lan của anh L4 thì anh L4 đã lấy về, máy bơm nước, những người nông dân ở gần đó đã lấy về, sau khi ông N đã bán đất cho bà T.
Người làm chứng, ông Bùi Văn T2 trình bày:
Ông có làm mướn cho nhà ông Nguyễn Phước N trang trại nuôi gà và vườn dừa, mỗi tháng là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng chẳn). Ông đã giữ trong vòng 4 tháng là 24.000.000 đồng ( Hai mươi bốn triệu đồng). Ông đã nhận tiền đầy đủ và có ghi giấy nhận tiền lương cho vợ chồng ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị L1 176 ấp T, L, phường L, xã H, tỉnh Tây Ninh vào ngày 05/9/2020. Tối đó vào trang trại giữ thì gặp bà T, ông N giới thiệu, sau này bà T sẽ mua trang trại và hôm nay bà T xin ở lại trang trại cùng với T2, để chờ ngày chồng tiền còn lại cho ông N. Khi ông vào trang trại thì đồ còn nguyên gồm: 2 cái máy bơm; 1 năng lượng còn đang sử dụng; khoảng 250 con gà trong đó có cả gà đá và tất cả đồ gia dụng trong trang trại. Ông vào ở khoảng 1 tuần lễ (07 ngày) thì bà T bắt đầu kêu ông bắt gà đi bán tại chợ T5, bán bao nhiêu tiền thì ông không biết. Các lần sau bà T tự bán, có cho ông 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) ông về bằng xe ôm. Từ đó trở về sau ông không biết gì hết, bà T tự bán. Sau đó còn lại thiết bị của trang trại, ông N kêu ông vào giữ tiếp. Từ đó trở về sau mới làm đúng 4 tháng.
Người làm chứng, ông Nguyễn Quốc K trình bày:
Vào năm 2020, Công an T có tiếp nhận vụ việc của ông Nguyễn Phước N sinh năm 1954. HKTT: SỐ B, ấp L, phường L, thị xã H, Tây Ninh về việc tài sản của ông N gồm 02 máy bơm nước bị mất trộm. Công an xã T nhận tin báo và xác minh rà soát đối tượng nghi vấn thì qua lời trình bày của ông N chủ tài sản nêu trên cung cấp thì nghi vấn và phát hiện tài sản trên của mình tại nhà của Đ (trại chăn nuôi). Sau khi làm việc giữa 2 bên thì thỏa thuận hòa giải với nhau và bồi thường tiền lại cho chủ tài sản nêu trên.
Người làm chứng, ông Trần Văn H trình bày:
Năm 2019, ông có gửi trại cho ông Ba H1 một năm rưỡi thì ông B bán lại cho ông N trong thời gian ông ở đó thì máy năng lượng mặt trời đã bị chủ chính tay ông là người tháo mấy năng lượng mặt trời đem vào kho để cất.
Người làm chứng, bà Danh Thị H2 trình bày:
Do bà không biết chữ nên bà nhờ Tòa án ghi lời khai giúp nội dung như sau:
Khoảng 9 giờ đêm năm 2020 bà đi giăng lưới gần chỗ bà T đang ở, bà thấy ông C vô kêu ông T2 đi trốn, vì ông N thuê người vào đánh bà T, ông T2 và bà T bỏ đi, 07 giờ sáng hôm sau bà T về la lên bị mất trộm, bà thấy vậy chạy vô xem thì thấy không còn gì.
Người làm chứng, bà Đặng Thị D trình bày:
Bà cam kết chữ viết với số tiền là sự thật viết tại Văn phòng Công chứng Gia Thôn huyện C, tỉnh Tây Ninh (là sự thật ngày 26.9.2020), bà và Nguyễn Thị Hồng T có nhận thửa đất của ông N đã ký tên bán đất, và bà giao tiền tại Công chứng Gia thôn C, Tây Ninh là 270.000.000 đồng là đúng sự thật (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).
Bà là Đặng Thị D cam kết chữ viết của bà và chữ ký của ông N và Nguyễn Thị Hồng T là đúng sự thật.
Tại phiên tòa:
Bà L trình bày:
Ông N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu là yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng T hoàn trả cho ông N giá trị những tài sản gồm: 01 Máy phát điện năng lượng mặt trời; Ghe mũ máy săn 10 ngựa; 10 Trại cột xi măng lợp tôn, mỗi trại 1000m²; 03 máy dầu hiệu Sato của Nhật Bản sản xuất; 02 Máy xăng cơ bơm nước có vây đáy 5,5 ngựa; 200 cây dừa đang thu trái; 03 cái ao nuôi cá mỗi cái 1000 m²; 01 bếp ga, 01 bình ga, 01 chảo nấu ăn; 07 lồng sắt nuôi gà con ngang 1,5m dài 3m; 03 cái cân 2 cái 100 kg, 01 cái 0,5kg; 01 cái bình xịt cỏ, 03 cái rựa, 01 cái búa lớn, 01 cái búa nhỏ, 01 thùng đựng chìa khóa; 03 cuộn dây tưới nước 100m cuộn; 01 thùng xe lôi, 300m dây điện lớn; 03 cây rựa, 03 cây cuốc; 05 ống nhựa mới hiệu bình minh; khoảng 300 con gà cao Lãnh, 100 con gà tre; 01 cái tivi 20 in, xài bằng ăng ten mặt đất; 01 ống dây bơm nước 01 tấc dài 20m. Có giá trị là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), yêu cầu bà T hoàn trả số tiền trên 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Bà L1 trình bày: Tôi thống nhất với những nội dung bà L vừa trình bày, tôi không bổ sung gì thêm.
Bà T trình bày: Tôi không đồng ý yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Tôi yêu cầu phía nguyên đơn bồi thường thiệt hại cho tôi, do nguyên đơn khởi kiện tôi nên tôi phải đi hầu gồm: Tiền thuê xe ôm, tiền tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập từ ngày 15/11/2021 cho đến ngày 06/8/2024, cụ thể: Tiền thuê xe ôm: 40.000.000 đồng; T3 tổn thất tinh thần: 20.000.000 đồng; Tiền mất thu nhập từ ngày 15/11/2021 cho đến ngày 06/8/2024 là 32 tháng x 200.000 đồng/ngày = 64.000.000 đồng. Tổng cộng là 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng), yêu cầu ông N, bà L1 hoàn trả số tiền trên 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
Bà L trình bày: Ông N không đồng ý nội dung yêu cầu phản tố của bà T.
Bà L1 trình bày: Tôi cũng không đồng ý nội dung yêu cầu phản tố của bà T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, kiến nghị Thẩm phán xem xét khắc phục.
- - Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung yêu cầu của nguyên đơn; Nội dung yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp không nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phước N yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng T hoàn trả cho ông N giá trị những tài sản gồm: 01 Máy phát điện năng lượng mặt trời; Ghe mũ máy xăng 10 ngựa; 10 Trại cột xi măng lợp tole, mỗi trại 1000 m²; 03 máy dầu hiệu Sato của Nhật bản sản xuất; 02 máy xăng cơ bơm nước có vây đáy 5,5 ngựa; 200 cây dừa đang thu trái; 03 cái ao nuôi cá mỗi cái 1000 m²; 01 bếp ga, 01 bình ga, 01 chảo nấu ăn; 07 lồng sắt nuôi gà con ngang 1,5m dài 3m; 03 cái cân 2 cái 100 kg, 01 cái 0,5kg; 01 cái bình xịt cỏ, 03 cái rựa, 01 cái búa lớn, 01 cái búa nhỏ, 01 thùng đựng chìa khóa; 03 cuộn dây tưới nước 100m/cuộn; 01 thùng xe lôi, 300m dây điện lớn; 03 cây rựa, 03 cây cuốc; 05 ống nhựa mới hiệu bình minh; khoảng 300 con gà cao Lãnh, 100 con gà tre; 01 cái tivi 20 in, xài bằng ăng ten mặt đất; 01 ống dây bơm nước 01 tấc dài 20m. Có giá trị là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật; Bị đơn đang cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Ngày 25/8/2020, Ông Nguyễn Phước N và bà Nguyễn Thị Hồng T có ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng 02 phần đất gồm: Phần đất có diện tích 5.740 m², thuộc thửa số 277, tờ bản đồ số 32, Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh và phần đất có diện tích 6.777m², thuộc thửa số 276; tờ bản đồ số 32, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Theo nội dung hợp đồng đặt cọc: Giá chuyển nhượng là 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng), bà T chồng cọc cho ông N, bà L1 số tiền là 300.000.000 đồng, ông N, bà L1 cam kết tất cả tài sản trong khu đất mà ông N, bà L1 đã bán cho bà T hết; Ông N, bà L1 sẽ ra đi hai bàn tay không. Thực tế ngày 25/8/2020, được sự đồng ý của ông N, bà L1, bà T đã vào ở trong khu đất. Khi bà T tiếp quản phần đất thì toàn bộ công trình trên đất: Xà lan, máy bơm, máy phát điện,....vẫn còn, nhưng thật ra những tài sản trên là của người khác gửi và chủ sở hữu những tài sản đó đã đến lấy về chẳng hạn như: Ông T4 lấy ghe mủ và 01 máy bơm; Ông D1 lấy 01 máy bơm; Ông L4 lấy Xà lan. Đến ngày thứ 7 thì giữa bà T với ông N, bà L1 xảy ra mâu thuẩn và những tài sản ông N, bà L1 giao cho bà T hai bên đều xác định thời điểm đó không còn và bà T rời khỏi khu đất kể từ ngày thứ 7. Ông N không có tài liệu, chứng cứ chứng minh những tài sản bàn giao cho bà T là tài sản của ông N. Hiện nay cả hai bên đều xác định những tài sản đó không còn. Ông N cho rằng khi vào tiếp quản phần đất mà hai bên đặt cọc mua bán mới phát hiện những tài sản trên không còn là không đúng.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phước N về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Hồng T hoàn trả cho ông N giá trị những tài sản gồm: 01 Máy phát điện năng lượng mặt trời; Ghe mũ máy săn 10 ngựa; 10 Trại cột xi măng lợp tôn, mỗi trại 1000m²; 03 máy dầu hiệu Sato của Nhật bản sản xuất; 02 Máy xăng cơ bơm nước có vây đáy 5,5 ngựa; 200 cây dừa đang thu trái; 03 cái ao nuôi cá mỗi cái 1000 m²; 01 bếp ga, 01 bình ga, 01 chảo nấu ăn; 07 lồng sắt nuôi gà con ngang 1,5m dài 3m; 03 cái cân 2 cái 100 kg, 01 cái 0,5kg; 01 cái bình xịt cỏ, 03 cái rựa, 01 cái búa lớn, 01 cái búa nhỏ, 01 thùng đựng chìa khóa; 03 cuộn dây tưới nước 100m cuộn; 01 thùng xe lôi, 300m dây điện lớn; 03 cây rựa, 03 cây cuốc; 05 ống nhựa mới hiệu bình minh; khoảng 300 con gà cao Lãnh, 100 con gà tre; 01 cái tivi 20 in, xài bằng ăng ten mặt đất; 01 ống dây bơm nước 01 tấc dài 20m. Với tổng số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), yêu cầu trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật; Là không có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu phản tố của bị đơn, bà Nguyễn Thị Hồng T:
Mặc dù yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, nhưng bà T không có tài liệu chứng cứ, chứng minh những thiệt hại mà phía nguyên đơn đã gây ra cho bà; Những tài liệu chứng cứ bà T cung cấp cho Toà án không có mối quan hệ nhân quả đối với những thiệt hại thực tế xảy ra đối với bà. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Hồng T về việc yêu cầu phía nguyên đơn bồi thường thiệt hại cho bà những chi phí gồm: Tiền thuê xe ôm, tiền tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập từ ngày 15/11/2021 cho đến ngày 06/8/2024, với tổng số tiền là 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng), yêu cầu trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật; Là không có cơ sở chấp nhận.
Ngày 15/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh có ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2021/QĐ-BPKCTT về việc: “Phong tỏa tài sản” là số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) hiện Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang giữ của bà Nguyễn Thị Hồng T; Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên không được chấp nhận, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2021/QĐ-BPKCTT, ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là có cơ sở. Những thiệt hại về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà phía nguyên đơn gây ra cho phía bị đơn, do phía bị đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, khi nào bà T có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận. Do hồ sơ nhiều và thiếu Thư ký nên vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nghiêm chỉnh tiếp thu và sẽ khắc phục trong thời gian tới.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn, bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12; khoản 1, 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Ông N, bà T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều: 158, 554, 559, 584, 585, 592 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phước N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng T hoàn trả cho ông N giá trị những tài sản gồm: 01 Máy phát điện năng lượng mặt trời; Ghe mũ máy xăng 10 ngựa; 10 Trại cột xi măng lợp tôn, mỗi trại 1000m²; 03 máy dầu hiệu Sato của Nhật bản sản xuất; 02 Máy xăng cơ bơm nước có vây đáy 5,5 ngựa; 200 cây dừa đang thu trái; 03 cái ao nuôi cá mỗi cái 1000 m²; 01 bếp ga, 01 bình ga, 01 chảo nấu ăn; 07 lòng sắt nuôi gà con ngang 1,5m dài 3m; 03 cái cân 2 cái 100 kg, 01 cái 0,5kg; 01 cái bình xịt cỏ, 03 cái rựa, 01 cái búa lớn, 01 cái búa nhỏ, 01 thùng đựng chìa khóa; 03 cuộn dây tưới nước 100m cuộn; 01 thùng xe lôi, 300m dây điện lớn; 03 cây rựa, 03 cây cuốc; 05 ống nhựa mới hiệu bình minh; khoảng 300 con gà cao Lãnh, 100 con gà tre; 01 cái tivi 20 in, xài bằng ăng ten mặt đất; 01 ống dây bơm nước 01 tấc dài 20m. Với tổng số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Hồng T về việc yêu cầu phía nguyên đơn bồi thường thiệt hại cho bà những chi phí gồm: Tiền thuê xe ôm, tiền tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập từ ngày 15/11/2021 cho đến ngày 06/8/2024, với tổng số tiền là 124.000.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu đồng), trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
3. Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 03/2021/QĐ-BPKCTT, ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
4. Ông Nguyễn Phước N được nhận lại tài sản bảo đảm (tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá) đối với số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) mở ngày 14/01/2021 tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện C, tỉnh Tây Ninh.
5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Phước N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nhưng do ông N đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông N được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng), cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016351 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà T còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng).
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
Bản án số 71/2025/DSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 71/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước N
