TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 71/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thành Đông
- Ông Trương Văn Phúc
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2024/TLST- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 8 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số: 95/2025/QĐST - DS ngày 15 tháng 9 năm 2025 và quyết định phân công lại hội thẩm nhân dân số: 23/2025/QĐST - DS ngày 29 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; cùng địa chỉ: số I, ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Đinh Thị Kiều L, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: số A, Đ, phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
- Bà Bùi Thị Kim Y, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: số A, A, phường G, thành phố Hồ Chí Minh (vắng có đơn);
- Ông Phan Tường D1, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: khu phố T, xã S, tỉnh Đăk Lắk (có mặt);
Cùng địa chỉ liên lạc: số E Đ, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phan Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người làm chứng do bị đơn triệu tập:
- Ông Lê Việt H1 (B), sinh năm 1955; địa chỉ: số A, khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Ông Trần Thanh H2, sinh năm 1938; địa chỉ: số A, ấp K, xã G, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2024, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 16/4/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D và người đại diện theo ủy quyền là bà Đinh Thị Kiều L, bà Bùi Thị Kim Y, ông Phan Tường D1 trình bày:
Ông Đ, bà D là chủ sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 5992,1m², thuộc thửa đất 144, tờ bản đồ 73, toạ lạc tại khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Diện tích đất trên có nguồn gốc của cha ông Đ là ông Lê Văn Q (tên gọi khác là Lê Văn Q1) sử dụng từ trước năm 1960 có Bằng khoán điền thổ từ thời Pháp (nguyên trước đây là thửa đất 14, tờ bản đồ 73, diện tích 7037,9m²), có Ủy ban nhân dân thị trấn G xác nhận ngày 22/10/2002 trên bằng khoản điển thổ. Năm 1976, ông Q1 để lại cho ông Đ tiếp tục sử dụng cho đến nay.
Ngày 09/11/1998, Ủy ban nhân dân thị trấn G lập Biên bản xác định ranh giới đất và cắm mốc xác định ranh đất.
Ngày 09/4/1999, ông Đ làm Đơn đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
Ngày 07/5/1999, Ủy ban nhân dân thị trấn G cấp giấy xác nhận nguồn gốc đất. Tại giấy xác nhận ghi nhận thửa đất 14, tờ bản đồ 73, diện tích 7037,9m² là của ông Q1 để lại cho ông Đ sử dụng từ năm 1977 đến nay.
Ngày 06/11/2002, Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số 2401/QĐ-UB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 66 hộ, trong đó có đất của ông Đ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: V691465, số vào số: 1766 QSDD 2401/QĐ-UB.
Ngày 15/1/2009, ông Đ, bà D chuyển nhượng cho ông Lê Văn A, thửa 51 (1/14) tờ bản đồ 73, diện tích 71,6m² (Hợp đồng số 6 ngày 15/1/2009). Xác nhận đăng ký biến động vào ngày 04/02/2009. Diện tích còn lại của thửa 14 là 6966,3m², trong đó có 100m² đất ở;
Ngày 22/7/2013, ông Đ, bà D làm đơn đề nghị cấp đổi số. Ngày 21/8/2013 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ban hành Thông báo số 1929/TB-VPĐK cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính, thay đổi từ số: V691465 (số vào số: 1766) thành Giấy chứng nhận số: BO 984866 (số vào số cấp GCN: CH00980) cấp ngày 19/8/2013, điều chỉnh diện tích còn lại là 6883,6m²;
Sau đó, diện tích đất trên tiếp tục được tách thành thửa 102, diện tích 6325,8m² (có điều chỉnh diện tích từ 6325,8m² thành 6325,1m² vào ngày 06/7/2020) và thửa 103, diện tích 557,8m² (tặng cho con là Lê Thị Thu T năm 2018). Sau đó, thửa 102 tiếp tục tách thành thửa 144, diện tích 5992,1m² và thửa 145, diện tích 333m² (tặng cho con là Lê Thị Kim P vào năm 2020). Đối với thửa đất 144, diện tích 5992,1m² trước đây ông bà cắm ranh mốc để tiến hành rào lại đất nhưng ông H đã cản trở và cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H. Mặc dù ông Đ, bà D đã nhiều lần thương lượng, hòa giải nhưng không đạt được kết quả.
Vì vậy, ông Đ, bà D khởi kiện yêu cầu ông H và bà S có nghĩa vụ trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm qua đo đạc thực tế là 74,1m² thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, toạ lạc tại ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn đồng ý Phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 31/3/2025, Biên bản định giá ngày 06/3/2025 làm cơ sở cho Tòa án giải quyết, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Theo Văn bản trình bày ý kiến ngày 28/10/2024 và trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Đất tranh chấp diện tích 74,1m², theo bản đồ địa chính thuộc thửa đất 144, tờ bản đồ 73 mặc dù do nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thuộc quyền sử dụng của ông và bà S.
Về nguồn gốc, đất tranh chấp và một phần của thửa đất 7, tờ bản đồ 73 là của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông Trần Thanh H2 vào năm 1985. Phần còn lại của thửa đất 7 có diện tích khoảng 150m² thì có nguồn gốc của ông bà Phan Văn N, Lê Thị R (cha mẹ vợ, đã chết) cho vợ chồng ông sử dụng vào khoảng năm 1995, chính thức tặng cho vào khoảng năm 2000.
Từ năm 1985, đất tranh chấp do vợ chồng ông trực tiếp sử dụng đến nay. Hiện trạng đất hiện nay là một phần ao và đất bằng, trên đất có hàng rào cây xanh do vợ chồng ông trồng từ lâu. Quá trình sử dụng, vợ chồng ông không tu bổ thêm, hiện trạng đất giữ nguyên, không thay đổi.
Khoảng năm 1998, các thửa đất 7, 144 được nhà nước đo đạc, nhưng không có hiệp thương ranh. Đến khoảng năm 2014, vợ chồng ông mới đi kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 17/4/2014. Thời điểm này, thửa đất 7 không đo đạc lại và cũng không có hiệp thương ranh. Hai bên phát sinh tranh chấp từ năm 2016.
Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, ông không đồng ý. Ông yêu cầu Toà án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông đối với đất tranh chấp.
Bị đơn đồng ý Phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 31/3/2025, Biên bản định giá ngày 06/3/2025 làm cơ sở cho Tòa án giải quyết, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị S trình bày:
Thống nhất với trình bày của ông Nguyễn Văn H, không bổ sung.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn là ông Phan Tường D1, bà Đinh Thị Kiều L giữ nguyên trình bày, yêu cầu ông H và bà S di dời, chặt bỏ hàng rào cây xanh trả lại cho các nguyên đơn diện tích đất tranh chấp 74,1m². Các nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng và liên đới hỗ trợ công sức tu bổ đất cho ông H, bà S số tiền là 2.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H xác định hiện trạng đất tranh chấp thời điểm nhận chuyển nhượng từ ông H2 tại phần phía sau có hiện trạng đất sình. Quá trình sử dụng vợ chồng ông vét dần thành hiện trạng ao như hiện nay; phần ao còn lại thì thuộc thửa đất 7. Do đất tranh chấp có nguồn gốc của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông H2 nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị S thống nhất với trình bày, ý kiến của ông H.
Người làm chứng:
- Ông Trần Thanh H2 trình bày: thời điểm chuyển nhượng là năm 1985. Khi chuyển nhượng có chỉ ranh nhưng không đo đạc. Khoảng năm 2014, khi ông H làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông có làm giấy xác nhận nguồn gốc đất, chính là hai giấy xác nhận có trong hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 7, tờ bản đồ 73 của ông H, bà S.
- Ông Lê Việt H1 trình bày: thống nhất với trình bày của ông H, trình bày của ông H2. Đất tranh chấp có nguồn gốc của ông H nhận chuyển nhượng từ ông H2.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: Sau khi nhận đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Về nội dung: Căn cứ các điều 166, 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 236 Luật đất đai, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D.
+ Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S chặt bỏ một phần hàng rào cây xanh trả lại cho ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D phần đất đo đạc thực tế có diện tích 74,1m², đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, tọa lạc tại thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
+ Ghi nhận ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D tự nguyện hỗ trợ công sức tu bổ đất cho ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S số tiền 2.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị S trả lại diện tích 74,1m² thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, toạ lạc tại ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 3 điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Bùi Thị Kim Y vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị S trả lại diện tích đất 74,1m² thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, toạ lạc tại ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Theo Bản đồ tổng thể thu thập từ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực 23 thể hiện: thửa đất 144 và thửa đất 7 cùng tờ bản đồ 73 có vị trí giáp ranh nhau, cùng toạ lạc ấp B, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Trong đó:
- - Thửa đất 144, diện tích chung 5992,1m², mục đích sử dụng Đất ở tại đô thị, đất trồng cây lâu năm hiện ông Đ và bà D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/7/2020 (BL 16);
- - Thửa đất 7, diện tích chung 683,5m², mục đích sử dụng Đất ở tại đô thị, đất trồng cây lâu năm hiện ông H và bà S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 17/4/2014 (BL 146);
[2] Theo Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và Phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 06/3/2025 thì đất tranh chấp có diện tích 74,1m² thuộc một phần thửa đất 144, tờ bản đồ 73, có ký hiệu là thửa 144a (BL 201, 210 – 221).
[3] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp:
[3.1] Theo nguyên đơn ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D: đất tranh chấp trước đây có nguồn gốc của cha ông Đ là ông Lê Văn Q (tên gọi khác là Lê Văn Q1) sử dụng từ trước năm 1960 (nguyên trước đây là thửa đất 14, tờ bản đồ 73, diện tích 7037,9m²). Năm 1976, ông Q1 để lại cho ông Đ tiếp tục sử dụng cho đến nay. Ngày 09/11/1998, Ủy ban nhân dân thị trấn G lập Biên bản xác định ranh giới đất và cắm mốc xác định ranh đất. Ngày 09/4/1999, ông Đ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, được Ủy ban nhân dân thị trấn G cấp Giấy xác nhận nguồn gốc đất vào ngày 07/5/1999 và được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 06/11/2002 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: V691465, số vào số: 1766 QSDD 2401/QĐ-UB). Sau khi chuyển nhượng một phần cho ông Lê Văn A với diện tích 71,6m² và làm thủ tục cấp đổi sổ, thửa đất 14 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính, thay đổi từ số: V691465 (số vào số: 1766) thành Giấy chứng nhận số: BO 984866 (số vào số cấp GCN: CH00980) cấp ngày 19/8/2013, điều chỉnh diện tích còn lại là 6883,6m². Sau đó, thửa đất 14 tách thành thửa 102, diện tích 6325,8m² (có điều chỉnh diện tích từ 6325.8m² thành 6325.1m² vào ngày 06/7/2020) và thửa 103, diện tích 557,8m² (tặng cho con là Lê Thị Thu T năm 2018). Và thửa 102 tiếp tục tách thành thửa 144, diện tích 5992,1m² và thửa 145, diện tích 333m² (tặng cho con là Lê Thị Kim P vào năm 2020). Đối với thửa đất 144, diện tích 5992.1m² trước đây ông bà đã cắm ranh mốc để tiến hành rào lại đất nhưng ông H cản trở và cho rằng diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H. Hai bên phát sinh tranh chấp từ năm 2016. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là B khoán điền thổ từ thời Pháp, Giấy xác nhận nguồn gốc đất vào ngày 07/5/1999 của Ủy ban nhân dân thị trấn G, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 144, tờ bản đồ 73 số CX 116351, số vào sổ cấp GCN: CS05346 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/7/2020.
[3.2] Theo bị đơn ông Nguyễn Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị S, mặc dù đất tranh chấp thuộc thửa đất 144 nhưng có nguồn gốc của ông bà nhận chuyển nhượng từ ông Trần Thanh H2 vào năm 1985. Từ năm 1985 đến nay, đất tranh chấp do vợ chồng ông trực tiếp sử dụng. Hiện trạng đất hiện nay có một phần ao và một phần đất bằng, trên đất có hàng rào cây xanh của vợ chồng ông. Khoảng năm 1998, các thửa đất 7, 144 được nhà nước đo đạc, nhưng không có hiệp thương ranh. Đến năm 2014, vợ chồng ông mới đi kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 17/4/2014. Thời điểm này, thửa đất 7 không đo đạc lại và cũng không có hiệp thương ranh. Hai bên phát sinh tranh chấp từ năm 2016. Chứng cứ ông H, bà S cung cấp là lời làm chứng của các ông Trần Thanh H2, Lê Việt H1.
[3.3] Theo kết quả xác minh (BL 264 – 268) và hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Thửa đất 144, tờ bản đồ 73 (BL 38 – 139):
- Ngày 09/11/1998, Ủy ban nhân dân thị trấn G lập Biên bản xác định ranh giới đất và cắm mốc xác định ranh đất.
- Ngày 09/4/1999, ông Đ làm Đơn đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
- Ngày 07/5/1999, Ủy ban nhân dân thị trấn G cấp Giấy xác nhận nguồn gốc đất. Tại giấy xác nhận ghi nhận thửa đất 14, tờ bản đồ 73, diện tích 7037,9m² là của ông Q1 để lại cho ông Đ sử dụng từ năm 1977 đến nay.
- Ngày 06/11/2002, Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số 2401/QĐ-UB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 66 hộ, trong đó có ông Đ, bà D, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: V691465, số vào số: 1766 QSDD 2401/QĐ-UB.
- Ngày 15/1/2009, ông Đ, bà D chuyển nhượng cho ông Lê Văn A, thửa 51 (1/14) tờ bản đồ 73, diện tích 71,6 m², xác nhận đăng ký biến động vào ngày 4/2/2009. Diện tích còn lại của thửa 14 là 6966,3m², trong đó có 100m² đất ở;
- Ngày 22/7/2013, ông Đ, bà D làm đơn đề nghị cấp đổi số. Ngày 21/8/2013 Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất ban hành Thông báo số 1929/TB-VPĐK cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính. Thay đổi từ số: V691465 (số vào số: 1766) thành Giấy chứng nhận số: BO 984866 (số vào số cấp GCN: CH00980) cấp ngày 19/8/2013, điều chỉnh diện tích còn lại là 6883,6m²;
- Sau đó, diện tích đất trên tiếp tục tách thành thửa 102, diện tích 6325,8m² (có điều chỉnh diện tích từ 6325,8m² thành 6325,1m² vào ngày 06/7/2020) và thửa 103, diện tích 557,8m² (tặng cho con là Lê Thị Thu T năm 2018). Thửa 102 tiếp tục tách thành thửa 144, diện tích 5992,1m² và thửa 145, diện tích 333m² (tặng cho con là Lê Thị Kim P vào năm 2020).
Thửa đất 7, tờ bản đồ 73 (BL 232 – 262):
- Ngày 05/7/2013, ông H làm Đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất 2, tờ bản đồ 73, diện tích 253,3m² và làm Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất 2 và thửa đất 7, cùng tờ bản đồ 73, tổng diện tích 936,8m². Trong đó, thửa 7 chưa cấp giấy chứng nhận; thửa 2 cấp nhầm cho hộ ông Phan Văn T1. Cùng ngày, tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư, những người tham gia cuộc họp thống nhất nguồn gốc sử dụng hai thửa đất 2, 7 là nhận chuyển nhượng của ông Trần Thanh H2 vào năm 1982;
- Ngày 21/01/2014, ông Trần Thanh H2 lập hai “GIẤY XÁC NHẬN”, nội dung xác nhận vào năm 1982 có chuyển nhượng cho ông H và bà S thửa đất 2, diện tích 253,3m² và thửa đất 7, diện tích 683,5m², cùng tờ bản đồ 73;
- Ngày 11/3/2014, Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số 1181/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Phan Văn T1 số giấy 2009 và 2012, diện tích 1756m² thuộc thửa đất 08, 02, tờ bản đồ 73. Lý do: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng đối tượng.
- Ngày 17/4/2014, ông H và bà S được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 7 và thửa 2 cùng tờ bản đồ 73. Trong đó: thửa đất 2 có diện tích 253,3m²; thửa đất 7 có diện tích 683,5m².
[3.4] Như vậy, có căn cứ xác định đất tranh chấp trước đây thuộc thửa 14, tờ bản đồ 73 có nguồn gốc của ông Đ, bà D thừa hưởng từ ông Lê Văn Q1 từ năm 1977 và không thuộc diện tích đất mà ông H và bà S nhận chuyển nhượng từ ông H2 vào năm 1982. Thửa đất 7, tờ bản đồ 73 có diện tích trùng khớp với diện tích đất chuyển nhượng theo hai giấy xác nhận của ông H2 được lưu giữ trong hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy trình bày của ông H, bà S và các người làm chứng của về nguồn gốc đất tranh chấp là không có căn cứ.
[3.5] Về quá trình sử dụng, các bên thống nhất đất tranh chấp hiện ông H, bà S quản lý sử dụng. Về thời điểm bắt đầu sử dụng, các nguyên đơn cho rằng ông H, bà S sử dụng từ khoảng năm 2006; ông H, bà S cho rằng đã sử dụng từ năm 1985. Qua xác minh và lời khai của các người làm chứng có căn cứ xác định ông H, bà S đã sử dụng từ lâu, tính đến thời điểm tranh chấp là hơn 30 năm. Tuy nhiên như phân tích ở trên mặc dù đất tranh chấp do ông H, bà S sử dụng liên tục nhưng không chứng minh được quyền sử dụng đất hợp pháp nên không có cơ sở để xem xét.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đ, bà D, hiện do ông Đ, bà D đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H và bà S sử dụng đất tranh chấp không có căn cứ, không chứng minh được quyền sử dụng đất hợp pháp. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu ông H và bà S trả lại đất tranh chấp là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tài sản trên đất tranh chấp, công sức gìn giữ, tu bổ, bồi lắp đất tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2025 (BL 201) thể hiện: đất tranh chấp (thửa 144a) có hiện trạng một phần là ao nước, một phần là đất bằng; xung quanh ao nước là cây tạp, trên phần đất bằng có hàng rào cây xanh của ông H, bà S; không có nhà ở, vật kiến trúc.
Theo Biên bản định giá tài sản ngày 06/3/2025 của Hội đồng định giá huyện G (BL 203) thì đất tranh chấp có giá 1.700.000 đồng/m² (giá trên bao gồm hoa màu trên đất, không bao gồm nhà ở, vật kiến trúc khác);
Quá trình tố tụng và tại phiên toà, ông H và bà S xác định hiện trạng đất tại phần đất bằng giữ nguyên không thay đổi, phần ao thì cũng không tu bổ, bồi lắp mà chỉ vét ao nên làm thay đổi từ hiện trạng đất sình thành ao nước như hiện nay. Tuy nhiên, tại phiên toà, các nguyên đơn đồng ý hỗ trợ công tu bổ cho ông H, bà S số tiền 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: 6.359.500 đồng. Theo quy định tại các điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà D được chấp nhận nên ông H và bà S phải liên đới chịu. Tuy nhiên, tại phiên toà các nguyên đơn tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà D được chấp nhận nên ông H và bà S phải liên đới nộp số tiền là 300.000 đồng.
Ông Đ, bà D đồng ý hỗ trợ công tu bổ đất cho ông H, bà S số tiền 2.000.000 đồng nên phải liên đới nộp số tiền là 300.000 đồng.
Tuy nhiên, do các bên đều thuộc đối tượng người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn nộp số tiền trên theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
[8] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 157, 165, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S di dời, chặt bỏ tài sản (hàng rào cây xanh, ...) trả lại ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D diện tích 74,1m² thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long (có bản vẽ kèm theo).
Ghi nhận ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D tự nguyện liên đới hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S công sức tu bổ đất với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- Chi phí tố tụng: 6.360.000₫ (sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D tự nguyện chịu (đã nộp xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
Ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D được miễn nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S được miễn nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |
10
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Thị Ngọc D2
1) Ông Đ, bà D3 khởi kiện yêu cầu ông H, bà S trả lại cho ông Đ, bà D4 phần đất do đạc thực tế diện tích 74, 1m², thuộc thửa đất 144a, tờ bản đồ 73, tọa lạc tại xã G, tỉnh Vĩnh Long, trên đất không có cây trồng, vật kiến trúc.
(2) Ông H, bà S không đồng ý trước yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà D3.
(3) Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:
11
- Căn cứ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp, thể hiện: - Năm 2002, hộ ông Lê Văn Đ được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 14, tờ bản đồ số 73, diện tích 70379m², tại thị trấn G, huyện G. Năm 2009, ông Đ chuyển nhượng cho ông Lê Văn A, bà Nguyễn Thị B1 diện tích 71.6m². Năm 2013, hộ ông Đ được UBND huyện G cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa 14, tờ bản đồ số 73, diện tích 6883.6m². Năm 2018, thửa 14 tách thành 02 thửa là thửa số 102, diện tích 6325.8m² và thửa 103 diện tích 557.8m², ông Đại tặng cho bà Lê Thị Thu T diện tích 557.8m² theo Hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất ngày 26/3/2018. Theo Biện bản sửa sai số 73/BB-CNGT ngày 29/6/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G thửa số 102, diện tích 6325.8m² được điều chỉnh lại là 6325.1m². Năm 2020, thửa 102 tách thành 02 thửa là thửa 144, diện tích 5992.1m² và thửa 145, diện tích 333m². Thửa 144, tờ bản đồ số 73, diện tích 5992.1m² (viết tắt là thửa 144), hiện do ông Đ và bà Nguyễn Thị D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Năm 2014, ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ sô 73, diện tích 683,5m². Nguồn gốc đất ông H, bà S nhận chuyển nhượng của ông Trần Thanh H2 vào năm 1982.
Nhận thấy, ông Đ, bà D được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa 144 vào ngày 16/7/2020. Nguồn gốc đất là của ông Lê Văn Q cha ông Đại để lại, ông Đ quản lý sử dụng từ năm 1977 đến nay và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trình tự, thủ tục, quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà D là đúng theo quy định pháp luật. Giáp ranh với thửa 144 là thửa 07 do ông H, bà S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, sử dụng. Ông H, bà S cho rằng phần đất tranh chấp là của ông bà, cha mẹ ông để lại cho ông, bà sử dụng từ trước đến nay, ông Đ không tranh chấp. Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp có diện tích 74,1m² thuộc thửa 144a, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại thị trấn G, huyện G nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ, bà D. Do đó, có cơ sở xác định ông H, bà S đang sử dụng phần diện tích đất 74,1m² của ông Đ, bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất trên là có cơ sở chấp nhận.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ trên phần đất tranh chấp có một phần hàng rào cây xanh của ông H, bà S không có giá trị sử dụng nên không có giá trị sử dụng nên buộc ông H, bà S chặt bỏ một phần hàng rào cây xanh, ông Đ, bà D không phải thanh toán giá trị hàng rào cho ông H, bà S.
Ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị D tự nguyện hỗ trợ công sức tu bổ đất cho ông Nguyễn Văn H, bà Phan Thị S số tiền 2.000.000 đồng đây là sự tự nguyện của ông bà nên ghi nhận.
Từ nội dung và nhận định nêu trên,
12
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
BIÊN BẢN GIAO NHẬN
Hôm nay vào lúc ...........giờ .........phút, ngày .................................................
Taïi: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm
* Bên giao: bà Đặng Thị Ngọc D2 – Thẩm phán
* Bên nhận: .................................................................................................Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm.
Tiến hành giao nhận: Bản án số 163/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của TAND huyện Giồng Trôm (V – Nguyễn Văn T2).
Hai bên được nghe, đọc biên bản và đồng ý ký tên
Biên bản kết thúc vào hồi ......... giờ............phút cùng ngày
Người giao | Người nhận |
13
Đặng Thị Ngọc D2
14
Bản án số 71/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 71/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
