|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2025/DS-ST Ngày: 30/5/2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Chánh Hiệp
- 2. Ông Phạm Ngọc Hà
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Phạm Trương Nhựt Q, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 199/2025/QĐXXST-DS ngày 08/4/2025, giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1 (O). Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà H, số A T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: A Đại lộ H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền: ông Nguyễn Thành N – Chuyên viên thu hồi nợ hiện trường (theo văn bản ủy quyền ngày 10/7/2024) – có mặt.
Bị đơn: Bà Võ Thị Như P, sinh năm 2000; nơi cư trú: I khu V, đường B, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/7/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là Ngân hàng TMCP P1 (O) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) - người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành N trình bày: Bà Võ Thị Như P thỏa thuận ký với Ngân hàng TMCP P1 Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 25/02/2022 (gọi tắt là Hợp đồng) để vay số tiền 50.000.000 đồng; mục đích vay: mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất vay: 30%/năm, sau đó được điều chỉnh lại là 33%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Sau khi ký hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng vào 02 tài khoản thẻ, loại thẻ tín dụng Mastercard Platinum và Natural C. Quá trình giao dịch, khoản vay của bà P đã bị quá hạn thanh toán từ ngày 08/6/2023. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở bà P nhưng bà vẫn không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng P1 khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Như P phải trả nợ tạm tính đến ngày 30/5/2025 là vốn: 50.000.000 đồng, lãi trong hạn: 1.272.021 đồng, lãi quá hạn: 61.116.636 đồng, phí: 21.841.700 đồng và các khoản lãi phát sinh tính theo hợp đồng thẻ tín dụng kể từ ngày 31/5/2025 đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa ngân hàng rút lại yêu cầu bà P trả phí, chỉ yêu cầu bà P trả vốn và lãi là 112.388.657 đồng; trong đó vốn: 50.000.000 đồng, lãi trong hạn: 1.272.021 đồng, lãi quá hạn: 61.116.636 đồng và các khoản lãi phát sinh tính theo hợp đồng thẻ tín dụng kể từ ngày 31/5/2025 đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn bà Võ Thị Như P: Quá trình giải quyết vụ án bà P mặc dù được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai bà P vắng mặt không lý do. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- + Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng.
- + Về nội dung vụ án đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 18/7/2024, Ngân hàng TMCP P1 khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Như P trả nợ vay do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi. Mục đích vay vốn của bà P : mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng; vì vậy đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn đăng ký thường trú tại phường B, quận B, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận B theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn bà Võ Thị Như P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân số 2181011 ngày 25/2/2022 mà bà Võ Thị Như P ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 thể hiện số tiền ngân hàng cho bà P vay là 50.000.000 đồng. Mục đích vay là mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Thời hạn vay 36 tháng; lãi suất vay 30%/năm, sau đó được điều chỉnh lại là 33%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 và bà P xác lập hợp đồng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp theo quy định, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phía bà P đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Đến ngày 08/6/2023 thì bà P ngưng thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho đến nay. Số tiền gốc hiện bà P còn nợ lại là 50.000.000 đồng. Bà P được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bà đã thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà P trả phần phí; xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P trả tổng số tiền tính đến ngày 30/5/2025 là 112.388.657 đồng (trong đó, vốn: 50.000.000 đồng, lãi trong hạn: 1.272.021 đồng, lãi quá hạn: 61.116.636 đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Ngoài ra, do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có nghĩa vụ trả tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/2/2022 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: do bị đơn nộp án phí có giá ngạch 5% tương ứng nghĩa vụ phải thực hiện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1.:
Buộc bà Võ Thị Như P trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 số tiền còn nợ lại của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 25/02/2022, tạm tính đến ngày 30/5/2025 là 112.388.657 đồng (trong đó, vốn: 50.000.000 đồng, lãi trong hạn: 1.272.021 đồng, lãi quá hạn: 61.116.636 đồng).
Bà P tiếp tục chịu lãi suất theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 25/02/2022 trên số tiền chưa thi hành đến khi thi hành án xong.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P1 (O) về việc buộc bà Võ Thị Như P trả số tiền phí 21.841.700 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Như P nộp 5.619.432 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 2.564.878 đồng tiền tạm ứng án phí nộp theo biên lai 0001309 ngày 06/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Thanh Thảo |
Bản án số 71/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 71/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
