|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 71/2025/DS-ST
Ngày: 24 - 3 - 2025
“Tranh chấp thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Văn Hoà |
| Các hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Thu Sương |
| Ông Nguyễn Hoàng Tuấn |
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 17 đến 24/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 06/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2022, về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Thông báo tiếp tục tiến hành phiên tòa số 829/2024/TP-TTPT ngày 31 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QÐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 236/2025/TB-TA ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số 62/106, đường Lý Chính Thắng, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Minh: Bà Nguyễn Thị Kim Duyên, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 177, tổ 08, khóm Vĩnh Qưới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Tấn (Tân), sinh năm 1972. Địa chỉ: Khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
-
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Văn Hòn, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ 08, khóm Vĩnh Qưới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Chết)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Hòn, gồm:
- Ông Nguyễn Thanh Tuấn, sinh năm 1971; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim Duyên, sinh năm 1982; (Có mặt)
- Ông Nguyễn Trường Duy, sinh năm 1985; (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Duy Tuấn, sinh năm 1994. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim Hồng, sinh năm 1990; (Vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim Hồng: Bà Nguyễn Thị Kim Duyên, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 177, tổ 08, khóm Vĩnh Qưới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Thanh Tấn (Tân), sinh năm 1972. Địa chỉ: Khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim Hà, sinh năm 1976. Địa chỉ: 97/13 đường Phan Bội Châu, Phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Trường Giang, sinh năm 1978. Địa chỉ: 161, khu dân cư ấp Bình Hưng, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim Hương, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số 12 đường Chu Văn An, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 177, tổ 08, khóm Vĩnh Qưới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-
Ông Nguyễn Văn Hòn, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ 08, khóm Vĩnh Qưới, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Chết)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc đất là của bà Nguyễn Thị Ai (chị ruột của ông) mua lại từ người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Bìa BD906283, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH03811 do UBND huyện Châu Phú cấp ngày 07/3/2011. Cha mẹ ông là Nguyễn Văn Bảy chết năm 1973 và bà Nguyễn Thị Tảo chết năm 1973. Cha mẹ ông có tất cả 03 người con là Nguyễn Văn Hòn (thứ hai) chết, Nguyễn Thị Ai (thứ 3) chết vào năm 2020 và ông là Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra, cha mẹ ông không còn người con nào khác. Bà Ai không có chồng và con. Thường ngày bà Ai sinh sống một mình, còn ông bỏ đi từ năm 1973, thỉnh thoảng có về nhà với bà Ai. Khi còn sống bà Ai có tạo lập được tài sản là diện tích 77,3m² và căn nhà gỗ diện tích 78m² nằm trên diện tích đất 77,3m² này (đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên). Ngoài ra, bà Ai không còn tài sản gì khác. Vào năm 2012 bà Ai có lập di chúc cho ông toàn bộ tài sản này, chỉ được ở không được sang nhượng, lo hương khói cho bà Ai khi bà Ai qua đời. Sau khi bà Ai chết ông có đến gặp ông Tấn (con ruột của ông Hòn) để yêu cầu Tấn đưa cho ông giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Ai để ông làm thủ tục nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật nhưng Tấn không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Nay ông yêu cầu Toà án công nhận cho ông được quyền sử dụng đất, diện tích 77,3m² và căn nhà gỗ diện tích 78m² nằm trên diện tích đất 77,3m² này, thuộc thửa số 270, tở bản đồ số 28, toạ lạc tại ấp Vĩnh Quới, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Toàn bộ tài sản này hiện nay do Duyên (không rõ họ tên đầy đủ) là con của ông Hòn trông coi dùm, chứ không có quản lý, sử dụng gì hết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Tấn trình bày: Ông là con ruột của ông Nguyễn Văn Hòn, nguồn gốc đất đang tranh chấp trước đây là của ông bà nội là Nguyễn Văn Bảy (chết) và bà Nguyễn Thị Tảo (chết) để lại cho cha ông. Sau đó cha ông bán lại cho ông Tỏ (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau đó bà Ai mua lại và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Thường ngày bà Ai sinh sống một mình, đến năm 2016 do bà Ai hay bệnh không ai chăm sóc nên bà Ai kêu ông và hai con là Nguyễn Thị Hoài Châu, sinh ngày 24/4/2001 và Nguyễn Tô Thị Trúc Thanh, sinh ngày 07/9/2008 về sống chung và nhập cùng hộ khẩu với bà Ai. Khi còn sống bà Ai có tạo lập được tài sản là diện tích 77,3m² và căn nhà gỗ diện tích 78m² nằm trên diện tích đất 77,3m² này. Do công việc nên ông thường tới lui chăm sóc bà Ai từ khi bệnh đến khi mất và lo mai táng cho bà Ai, trong gia đình không ai quan tâm, phụ tiếp chi phí lo cho bà Ai. Ông Minh không có sinh sống tại địa phương, bỏ đi từ năm 1973 đến khi bà Ai mất khoảng 56 ngày thì về kêu ông đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ai để làm thủ tục nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật nhưng ông không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Từ đó, em gái ông là Nguyễn Thị Kim Duyên đứng ra ngăn cản, không có cho ông vào nhà của bà Ai, hâm doạ đánh ông và vợ ông. Hiện nay tài sản này do Duyên trông coi, chứ không có quản lý, sử dụng.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Minh, ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Minh. Ông yêu cầu ông Minh đưa cho ông 200.000.000 đồng, tiền công chăm sóc, nuôi bệnh và các khoảng chi phí phát sinh do ông lo cho bà Nguyễn Thị Ai từ khi bệnh đến khi mất khoảng 06 năm thì ông mới đồng ý theo yêu cầu của ông Minh và đưa cho ông Minh bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Tại phiên tòa
Bà Nguyễn Thị Kim Duyên đại diện nguyên đơn trình bày: Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hôm nay. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện như trong quá trình giải quyết vụ án. Thời điểm bà Nguyễn Thị Ai để lại di chúc thì bà hoàn toàn nhận thức được, mặc dù sau này bà có bệnh nhưng đầu óc vẫn còn rất minh mẫn. Nguồn gốc tài sản do bà Ai mua hợp pháp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cá nhân của bà thống nhất với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thị Kim Duyên đại diện cho bà Nguyễn Thị Kim Hồng trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng bị bệnh thiểu năng bẩm sinh và đang hưởng chính sách hỗ trợ hàng tháng của Nhà nước, bà là người đại diện nhận tiền trợ cấp và trực tiếp chăm sóc cho bà Nguyễn Thị Kim Hồng. Với tư cách đại diện cho bà Hồng thì bà cũng thống nhất với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Kim Duyên thực hiện đúng, các đương sự khác không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Minh; Về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp:
Ông Nguyễn Văn Minh khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc của bà Nguyễn Thị Ai, cho ông được hưởng tài sản theo di chúc. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp thừa kế tài sản quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về thẩm quyền:
Tranh chấp của các đương sự là thừa kế tài sản, bị đơn ông Nguyễn Thanh Tấn có nơi cư trú tại huyện Châu Phú nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Về tài liệu, chứng cứ:
Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các đương sự có mặt không có ý kiến phản đối đối với các tài liệu, chứng cứ đó. Đồng thời Tòa án đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.4] Về sự vắng mặt của đương sự:
Bà Nguyễn Thị Kim Duyên đại diện cho ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Kim Hồng có mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Thanh Tấn, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Trường Duy, Nguyễn Duy Tuấn, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Thị Kim Hà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương đương sự không xác định được nơi cư trú, Tòa án đã xác minh, thu thập chứng cứ về nơi cư trú của bà Nguyễn Thị Kim Hương nhưng không xác định được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 24/3/2025 Hội đồng xét xử tuyên án, bà Nguyễn Thị Kim Duyên đại diện cho ông Nguyễn Văn Minh, bà Nguyễn Thị Kim Hồng có mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Thanh Tấn, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Trường Duy, Nguyễn Duy Tuấn, Nguyễn Trường Giang, bà Nguyễn Thị Kim Hương vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành tuyên án là đúng quy định tại Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.5] Về thời hiệu:
Hội đồng xét xử thấy rằng, ngày 18/12/2020 bà Nguyễn Thị Ai chết, ngày 24/02/2021 ông Nguyễn Văn Minh khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo di chúc. Điều 623 Bộ luật Dân sự 2023 quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Do đó, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét về hàng thừa kế của các đương sự:
Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Ai chết 18/12/2020, bà Ai không có chồng, không có con, cha mẹ của bà Nguyễn Thị Ai đã chết trước bà Nguyễn Thị Ai nên bà Nguyễn Thị Ai không có hàng thừa kế thứ nhất. Bà Nguyễn Thị Ai có 03 (Ba) anh chị em ruột gồm bà và ông Nguyễn Văn Hòn, ông Nguyễn Văn Minh. Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ hai của bà Nguyễn Thị Ai gồm ông Nguyễn Văn Hòn và ông Nguyễn Văn Minh.
Quá trình chuẩn bị xét xử ông Nguyễn Văn Hòn chết ngày 14/01/2022, có những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Hà, Nguyễn Thị Kim Duyên, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Trường Duy, Nguyễn Thị Kim Hồng, Nguyễn Kim Hương, Nguyễn Duy Tuấn, Nguyễn Thị Kim Hương, Nguyễn Thanh Tấn. Do đó, Tòa án đưa những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Hòn là đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Xét về giá trị pháp lý của di chúc:
[2.2.1] Xét về ý chí của bà Nguyễn Thị Ai:
Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Ai lập di chúc ngày 09/8/2012 có chứng thực của UBND xã Vĩnh Thạnh Trung (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh Trung), huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Các đương sự trong vụ án không ai phản đối về ý chí của bà Nguyễn Thị Ai khi lập di chúc. Do đó, có đủ cơ sở xác định việc lập Di chúc ngày 09/8/2012 của bà Nguyễn Thị Ai được lập trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn tự nguyện.
[2.2.2] Xét về mục đích, nội dung của di chúc:
Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Ai lập di chúc để lại tài sản cho ông Nguyễn Văn Minh và có đầy đủ nội dung quy định tại Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005. Người sử dụng đất được quyền thực hiện giao dịch thừa kế quy định tại Điều 61 Luật Đất đai 2003. Như vậy, nội dung, mục đích của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Di chúc ngày 09/8/2012 có mục đích, nội dung là phù hợp với quy định tại Điều 631, Điều 646, Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005.
[2.2.3] Xét về hình thức của di chúc:
Điều 649 Bộ luật dân sự 2005 quy định hình thức của di chúc như sau: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”.
Điều 657 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, di chúc ngày 09/8/2012 do bà Nguyễn Thị Ai được lập bằng văn bản có chứng thực của UBND xã Vĩnh Thạnh Trung (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh Trung), huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Do đó, hình thức của di chúc ngày 09/8/2012 của bà Nguyễn Thị Ai phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2.4] Xét tính hợp pháp của toàn bộ di chúc:
Điều 634 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác".
Khoản 1 Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử nhận định như trên. Thấy rằng thời điểm lập di chúc bà Nguyễn Thị Ai vẫn minh mẫn, sáng suốt; việc lập di chúc được thực hiện một cách tự nguyện; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Do đó, di chúc ngày 09/8/2012 của bà Nguyễn Thị Ai là di chúc hợp pháp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Minh về việc công nhận Di chúc ngày 09/8/2012 do bà Nguyễn Thị Ai lập. Cho ông Nguyễn Văn Minh được hưởng di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Ai lập gồm: Diện tích đất 77,3m² thuộc các điểm 10, 11, 12, 4, 13 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú; Căn nhà có kết cấu: Móng cọc bê tông cốt thép, nền lót gạch men, khung cột gỗ, vách tol, mái tol, 1 bên không có vách thuộc các điểm 1, 2, 5, 6, 7, 8 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú.
[2.3] Xét yêu cầu trả tiền của ông Nguyễn Thanh Tấn:
Thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử ông Nguyễn Thanh Tấn có trình bày yêu cầu ông Nguyễn Văn Minh trả cho ông 200.000.000 đồng tiền công chăm sóc, nuôi bệnh và các khoảng chi phí phát sinh do ông lo cho bà Nguyễn Thị Ai khi bà Nguyễn Thị Ai già yếu. Tuy nhiên, Tòa án yêu cầu ông thực hiện thủ tục yêu cầu nhưng ông không thực hiện nên Tòa án không thụ lý, giải quyết. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Tấn có quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Xét về chi phí tố tụng:
Thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử có phát sinh chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 1.900.000 đồng và đo đạc tài sản tranh chấp 2.545.560 đồng. Ông Nguyễn Văn Minh được nhận toàn bộ di sản thừa kế nên phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này là đúng quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Minh đã nộp tạm ứng đầy đủ nên không phải nộp thêm.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định, “Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc trong khối di sản thừa kế. Đối với phần Tòa án bác đơn yêu cầu thì người yêu cầu chia tài sản chung, di sản thừa kế không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp Tòa án xác định tài sản chung, di sản thừa kế mà đương sự yêu cầu chia không phải là tài sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch”.
Thấy rằng, ông Nguyễn Văn Minh là người đủ 60 tuổi thuộc đối tượng được miễn án phí, tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Minh chỉ có đơn yêu cầu giảm nộp tạm ứng án phí nhưng không có đơn yêu cầu miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội mặc dù đã được Chủ tọa phiên tòa hướng dẫn bổ sung trong thời gian nghị án nhưng ông Nguyễn Văn Minh không thực hiện. Vì vậy, ông Nguyễn Văn Minh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần di sản ông được hưởng.
Căn cứ kết quả định giá ngày 25 tháng 7 năm 2024 thể hiện đất đang tranh chấp có giá chuyển nhượng thực tế từ 10.000.000/m². Tổng giá trị đất tranh chấp là 77,3m² X 10.000.000đ = 773.000.000đ. Căn nhà có giá là 1.528.500đ/m² X 78,3m² = 119.681.550đ. Tổng giá trị tài sản ông Nguyễn Văn Minh được nhận là 892.681.550 đồng. Do ông Nguyễn Văn Minh phải chịu áp phí dân sự sơ thẩm là 38.780.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 631; Điều 634; Điều 646; Điều 649; Điều 652; Điều 653; Điều 657 Bộ luật Dân sự 2005;
- - Điều 623; Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 61 Luật Đất đai 2003;
- - Điều 12, Điều 14, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Minh.
Công nhận Di chúc ngày 09/8/2012 của bà Nguyễn Thị Ai là hợp pháp.
Ông Nguyễn Văn Minh được hưởng di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Ai lập gồm:
- Diện tích đất 77,3m² thuộc các điểm 10, 11, 12, 4, 13 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú.
- Căn nhà có kết cấu: Móng cọc bê tông cốt thép, nền lót gạch men, khung cột gỗ, vách tol, mái tol, 1 bên không có vách thuộc các điểm 1, 2, 5, 6, 7, 8 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú.
Ông Nguyễn Văn Minh có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định.
(Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất Hưng Phú là một phần của Bản án, không thể tách rời Bản án)
- Về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Văn Minh phải chịu chi phí tố tụng là 4.445.560đ (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm sáu mươi đồng), trong đó: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) và chi phí đo đạc là 2.545.560đ (Hai triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm sáu mươi đồng), ông Nguyễn Văn Minh đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Minh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 38.780.000₫ (Ba mươi tám triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Văn Hoà |
Bản án số 71/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 71/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
