|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2025/DS-ST Ngày 11 tháng 06 năm 2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng“ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật và ông Lê Văn Hoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội: Ông Nguyễn Minh Hải, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 149/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-DS ngày 24/04/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-DS ngày 23/05/2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Công ty cổ phần M
- Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T, Chức vụ Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Anh Mai Văn Q, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và anh Nguyễn Nam T1, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.
- Cùng địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
- * Bị đơn: Anh Đặng Anh T2, sinh năm: 1986;
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1989;
- Cùng địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội.
( Anh Q có mặt; anh T2, chị H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Mai Văn Q trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY - JUPITER ngày 12/07/2024 và các phụ lục đính kèm giữa Công ty TNHH M1 (G) với Công ty Cổ Phần M (Jupiter) của khách hàng vay là anh Đặng Anh T2, sinh năm 1986, CMND số: [...] do Công an thành phố H cấp ngày 21/02/2012, chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, CMND số: [...] do cục C về TTXH cấp ngày 10/08/2020, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H đã ký kết với Ngân hàng TMCP V ( V1). Cụ thể như sau:
Theo Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022, Số tiền vay: 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng chẵn), thời hạn vay: 96 tháng, mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô, lãi suất: 9%/ năm. Trong quá trình vay, khách hàng đã trả 45,000,000 đồng tiền gốc 30.723.289 đồng tiền lãi, tổng thanh toán 75.723.289 đồng. Từ ngày 15/11/2022 khoản vay quá hạn, tạm tính đến ngày 11/06/2025, anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 435.000.000 đồng; Nợ lãi: 272.250.628 đồng; Tổng cộng: 707.250.628 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, số khung RL4B23F39N5119912, số máy 2NRX784606. Giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô BKS: 30G-464.16 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 14/01/2022, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H. Quá trình thực hiện Hợp đồng nêu trên anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/11/2022 nên phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng.
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY - JUPITER ngày 12/07/2024 và các phụ lục đính kèm giữa Công ty TNHH M1 (G) với Công ty Cổ Phần M (Jupiter) của khách hàng vay là anh Đặng Anh T2, sinh năm 1986, CMND số: [...] do Công an thành phố H cấp ngày 21/02/2012, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà anh Đặng Anh T2 đã ký kết với Ngân hàng TMCP V (V1). Cụ thể như sau:
Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/01/2022, số hợp đồng LN2201105057085 ngày 10/01/2022, hạn mức là 100.000.000đ, anh T2 chỉ thực hiện giao dịch với số tiền số tiền vay: 35.400.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng chẵn), thời hạn vay: 60 tháng, mục đích vay: Vay tiêu dùng. Trong quá trình vay, khách hàng đã trả 2,452,365 đồng tiền gốc 8.536.302 đồng tiền lãi, tổng thanh toán 10.988.667 đồng. Từ ngày 15/11/2022 khoản vay quá hạn, tạm tính đến ngày 11/06/2025, anh Đặng Anh T2 còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 32.947.635 đồng; Nợ lãi: 51.746.305 đồng; Tổng cộng: 84.693.940 đồng;
Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021, số hợp đồng: LN2110114476008 ngày 11/10/2021, Số tiền vay: 116.000.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu đồng chẵn), thời hạn vay: 60 tháng, mục đích vay: Vay tiêu dùng. Trong quá trình vay, khách hàng đã trả 11.154.836 đồng tiền gốc 36.848.387 đồng tiền lãi, tổng số tiền đã thanh toán 48.003.223 đồng. Từ ngày 15/11/2022 khoản vay quá hạn, tạm tính đến ngày 11/06/2025, anh Đặng Anh T2 còn nợ số tiền là: Nợ gốc:104.845.164 đồng; Nợ lãi: 164.665.837 đồng; Tổng cộng: 69.511.001 đồng; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9%/năm. (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điểu chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vncó hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,1%/năm. Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả.
Nay Công ty Cổ phần M yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M JUPITER toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng LN2201065031041, phụ lục Hợp đồng số 01 và các văn bản tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 11/06/2025 như sau: Tổng cộng: 707.250.628 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 435.000.000 đồng; Nợ lãi: 272.250.628 đồng.
Tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H thực tế thanh toán hết nợ.
Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ, bao gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, số khung: RL4B23F39N5119912, số máy: 2NRX784606. Giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô: 29.191679, BKS: 30H-464.16 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 14/01/2022, chủ sở hữu của anh Đặng Anh T2.
Trong trường hợp sau khi kê biên, phát mại không đủ để trả nợ. Jupiter có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho J đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.
- Buộc anh Đặng Anh T2 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M JUPITER toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021 theo số hợp đồng: LN2201105057085 và ngày 10/01/2022 và theo số hợp đồng: LN2110114476008 , tạm tính đến ngày 11/06/2025 như sau: Tổng cộng: 354.204.941 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 137.792.799 đồng; Nợ lãi: 216.412.142 đồng;
Tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021 theo số LN2201105057085 và ngày 10/01/2022 theo số LN2110114476008 cho đến ngày anh Đặng Anh T2 thực tế thanh toán hết nợ.
Tòa án nhân dân huyện Ba Vì ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 60/2025/QĐTĐ ngày 14/03/2025; Thông báo cho nguyên đơn, bị đơn yêu cầu tham gia việc xem xét thẩm định tại chỗ tài sản bị đơn anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H vắng mặt, không mang tài sản đang quản lý đến Tòa án để xem xét thẩm định theo yêu cầu của Tòa án. Đại diện nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa:
Công ty cổ phần M vẫn giữ nguyên quan điểm của mình
Anh Đặng Anh T2, chị Nguyễn Thị H vắng mặt không thể hiện quan điểm.Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì phát biểu:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP M.
Về án phí: Anh T2, chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn huyện B, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội.
Anh T2, chị H được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt thể hiện sự trốn tránh. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 2 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 được ký kết giữa anh Đặng Anh T2, chị Nguyễn Thị H và Ngân hàng TMCP V thì có đủ cơ sở để xác định: Anh T2 và chị H vay số tiền là 480.000.000 đồng, đến nay anh T2 và chị H đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc là: 45.000.000 đồng, số nợ gốc còn lại là 435.000.000 đồng nợ Công ty CP M.
Căn cứ vào theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/01/2022 theo số hợp đồng: LN2201105057085 được ký kết giữa anh Đặng Anh T2 và Ngân hàng TMCP V thì có đủ cơ sở để xác định: Anh T2 có vay số tiền: 35.400.000 đồng. Trong quá trình vay, anh T2 đã trả được số tiền: 2.452.365 đồng tiền gốc, tính đến ngày 11/06/2025, anh T2 còn nợ số tiền gốc là: 32.947.635 đồng. Căn cứ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021, số hợp đồng: LN2110114476008 ngày 11/10/2021, Số tiền vay: 116.000.000 đồng, trong quá trình vay, anh T2 đã trả số tiền 11.154.836 đồng tiền gốc. Từ ngày 15/11/2022 khoản vay quá hạn, tạm tính đến ngày 11/06/2025, anh Đặng Anh T2 còn nợ số tiền gốc là: 104.845.164 đồng. Việc Công ty CP M yêu cầu anh T2, chị H phải trả số tiền nợ gốc là có căn cứ nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu trả lãi: Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 được ký kết giữa anh T2, chị H và Ngân hàng TMCP V có thỏa thuận lãi suất cho vay trong hạn kể từ ngày giải ngân là 9%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định thời gian 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo, thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,6%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Trong các kỳ thay đổi về lãi suất, Ngân hàng đã thông báo cho anh T2 và chị H. Xác định anh T2 và chị H đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, theo bản kê chi tiết Ngân hàng cung cấp, từ thời điểm ngày 15/11/2022 toàn bộ dư nợ của anh T2 và chị H chuyển sang nợ quá hạn. Số nợ lãi trong hạn đối với khoản vay theo Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 là: 3.325.067đ; số nợ lãi quá hạn là: 257.185.110đ (tính đến 11/06/2025). Tổng nợ lãi là 260.510.177đ; Việc thỏa thuận lãi suất trong hạn và quá hạn giữa các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu lãi chậm trả lãi: Công ty M yêu cầu anh T2, chị H phải chịu số tiền lãi chậm trả lãi là: Lãi chậm trả lãi: 11.740.451đ (tính đến 11/06/2025). Tại Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 các bên có thỏa thuận: “lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả, bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả nhưng tối đa không quá 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả”, không phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu về lãi phạt chậm trả lãi.
Xét số nợ lãi theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/01/2022 theo số hợp đồng: LN2201105057085 được ký kết giữa anh Đặng Anh T2 và Ngân hàng TMCP V. Tại phần thỏa thuận về lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm vay lãi suất cho vay thấu chi là 33% được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh nêu tại Điều kiện giao dịch chung. Tại phần trả nợ gốc, lãi mục 1 đối với khoản vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán thì “Khách hàng có trách nhiệm kiểm tra và thanh toán đúng hạn số tiền thanh toán lãi cho V1 trong vòng 10 ngày kể từ ngày sao kê ( ngày thanh toán). Khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền thanh toán cho V1 số tiền thanh toán lãi sẽ bị chuyển quá hạn và chịu lãi chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo quy định tại điều kiện giao dịch chung”. Số nợ lãi trong hạn: 937.427đ, số nợ lãi quá hạn: 43.934.588đ, lãi chậm trả: 6.874.290đ. Tổng nợ lãi là: 51.746.305đ (tạm tính đến ngày 11/6/2025). Việc thỏa thuận lãi suất trong hạn và quá hạn giữa các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận.
Xét số nợ lãi theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021, số hợp đồng: LN2110114476008 ngày 11/10/2021 được ký kết giữa anh Đặng Anh T2 và Ngân hàng TMCP V. Tại phần thỏa thuận về lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm vay lãi suất cho vay thấu chi là 33% được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh nêu tại Điều kiện giao dịch chung. Tại phần trả nợ gốc, lãi mục 1 đối với khoản vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán thì “Khách hàng có trách nhiệm kiểm tra và thanh toán đúng hạn số tiền thanh toán lãi cho V1 trong vòng 10 ngày kể từ ngày sao kê ( ngày thanh toán). Khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền thanh toán cho V1 số tiền thanh toán lãi sẽ bị chuyển quá hạn và chịu lãi chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo quy định tại điều kiện giao dịch chung” số nợ trong hạn: 2.983.060đ, số nợ lãi quá hạn: 139.807.579đ, lãi chậm trả: 21.875.198đ Tổng nợ lãi là: 164.665.837đ ( tính đến ngày 11/6/2025). Việc thỏa thuận lãi suất trong hạn và quá hạn giữa các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận.
Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Ngân hàng TMCP V và anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H đã ký kết Hợp đồng thế chấp số LN2201065031041 ngày 14/01/2022, Hợp đồng đảm bảo về hình thức và nội dung nên chấp nhận yêu cầu của ngân hàng.
Trong trường hợp anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, số khung: RL4B23F39N5119912, số máy: 2NRX784606. Giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô: 29.191679, BKS: 30H-464.16 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 14/01/2022, chủ sở hữu của anh Đặng Anh T2. Nếu tài sản phát mại không đủ thanh toán thì anh T2, chị H phải tiếp tục thanh toán nghĩa vụ cho Công ty M.
[3]. Về án phí: Anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm phần nghĩa vụ trả nợ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 244, 271, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các Điều 117, 119, 299, 323, 463, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty CP M đối với anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H.
- Buộc anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H phải trả cho Công ty CP M theo Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 số tiền gốc: 435,000,000 đồng, số tiền lãi trong hạn là: 3.325.067đ; số nợ lãi quá hạn là: 257.185.110đ. Tổng nợ lãi là 260.510.177đ (dư nợ tạm tính đến ngày 11/06/2025). Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2201065031041 ngày 17/01/2022 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Buộc anh Đặng Anh T2 phải trả cho Công ty CP M theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/01/2022 theo số hợp đồng: LN2201105057085 số tiền gốc: 32.947.635 đồng, nợ lãi trong hạn: 937.427đ, số nợ lãi quá hạn: 43.934.588đ, lãi chậm trả: 6.874.290đ. Tổng nợ lãi là: 51.746.305đ ( tạm tính đến ngày 11/6/2025). Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, anh Đặng Anh T2 còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/01/2022 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Buộc anh Đặng Anh T2 phải trả cho Công ty CP M theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021, số hợp đồng: LN2110114476008 ngày 11/10/2021 số tiền gốc: 104.845.164 đồng, số nợ trong hạn: 2.983.060đ, số nợ lãi quá hạn: 139.807.579đ, lãi chậm trả: 21.875.198đ Tổng nợ lãi là: 164.665.837đ ( tạm tính đến ngày 11/6/2025). Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, anh Đặng Anh T2 còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11/10/2021 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty CP M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, số khung: RL4B23F39N5119912, số máy: 2NRX784606. Giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô: 29.191679, BKS: 30H-464.16 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 14/01/2022, chủ sở hữu của anh Đặng Anh T2.
- Nếu tài sản phát mại không đủ thanh toán nghĩa vụ cho anh T2, chị H tại Công ty CP M thì anh T2, chị H phải tiếp tục thanh toán nghĩa vụ cho Công ty CP M.
2. Về án phí:
Anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H phải chịu: 31.820.407 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm hai mươi nghìn bốn trăm linh bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Đặng Anh T2 phải chịu 17.710.247 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm mười nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty CP M số tiền tạm ứng án phí 18.635.000đ (Mười tám triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì theo biên lai số 0041053 ngày 23/12/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Công ty CP M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Anh Đặng Anh T2 và chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Trọng Đức |
Bản án số 71/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 71/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
