|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/DS-ST
Ngày: 06/6/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, TP. H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2025/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 203/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Trụ sở: lầu 13, số B đường N, phường V, Quận C, TP. H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Chung Xuân M (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Hoàng Thụy V, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số C lô A Chung cư N, Phường A, Quận C, TP. H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/12/2024, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 14/10/2022, bà Nguyễn Hoàng Thụy V có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiểu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ Visa; Số thẻ 436438-3054; Hạn mức 50.000.000 đồng; Lãi suất áp dụng 2,48%/tháng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 652.976.290 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 609.560.270 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 06/5/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 55.766.824 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Nguyễn Hoàng Thụy V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/12/2024 là 71.892.055 đồng, trong đó: Nợ gốc là 55.766.824 đồng; Lãi quá hạn là 16.125.231 đồng. Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/12/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng Thụy V đã được Tòa án tống đạt, niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vẫn không có mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai của bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Chung Xuân M (có đơn xin vắng mặt) có đơn trình bày: Yêu cầu buộc bà Nguyễn Hoàng Thụy V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 83.242.003 đồng (Nợ gốc là 55.766.824 đồng, lãi quá hạn là 27.475.179 đồng). Việc trả số tiền đã nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Buộc bà V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 07/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng Thụy V vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án thì đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bà Nguyễn Hoàng Thụy V yêu cầu thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà V có nơi cư trú tại Quận C, TP . nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận C thì bà V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ C Lô A Chung cư N, Phường A, Quận C, TP. H. Tòa án nhân dân Quận 3 thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng Thụy V được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng và xét xử hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Ngày 14/10/2022, bà Nguyễn Hoàng Thụy V có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiểu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ Visa; Số thẻ 436438-3054; Hạn mức 50.000.000 đồng; Lãi suất áp dụng 2,48%/tháng. Việc thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê của bà V với số thẻ 436438-3054 và trong quá trình sử dụng bà V vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng. Ngày 06/5/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và Ngân hàng ra Thông báo về việc nếu không thanh toán Ngân hàng sẽ khởi kiện bà V. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản nợ 83.242.003 đồng (trong đó nợ gốc là 55.766.824 đồng, lãi quá hạn là 27.475.179 đồng). Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về lãi suất: Xét các bên thỏa thuận lãi suất là 3,72%/tháng (trong hạn là 2,48% x lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn) tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 208, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Nguyễn Hoàng Thụy V phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng số 436438-3054 tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 83.242.003 đồng, trong đó nợ gốc là 55.766.824 đồng, nợ lãi là 27.475.179 đồng. Việc trả số tiền đã nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Nguyễn Hoàng Thụy V còn phải tiếp tục trả tiền lãi kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Thụy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4.162.100 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.797.301 đồng theo biên lai thu tiền số 0059642 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, TP. H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn được quyền được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |
Bản án số 71/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 71/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Nguyễn Hoàng Thụy V tranh chấp hợp đồng tín dụng
