|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/DS-PT
Ngày: 17 - 02 - 2025
V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu giải quyết chi phí mai táng; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho nhà, hủy nội dung cập nhật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Vũ Đức Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 826/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu giải quyết chi phí mai táng; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho nhà, hủy nội dung cập nhật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 442/2025/QĐPT ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P), sinh năm 1980. Hộ chiếu số: C86H5P5M9, cấp tại G. Địa chỉ: S G, S, G. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955; Thường trú: 71/14 L, A, N, Thành phố Cần Thơ; Địa chỉ liên lạc: H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Hữu T - Văn phòng L4, Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ liên hệ: H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng Trường S, sinh năm 1968. Địa chỉ: F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1963; Có mặt.
- Chị Nguyễn Kim X, sinh năm 2000; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hoàng Đại D, sinh năm 1965. Thường trú: Số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: Số B, Hẻm A, Tổ C, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
- Bà Kiều Hoàng Anh T1, sinh năm 1998. Cư trú: Hoa Kỳ (không rõ địa chỉ); Vắng mặt.
Nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ liên lạc: 0807 tòa O, chung cư V, Số H N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1975. Địa chỉ: A, Lầu B, đường T, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Anh Hoàng Duy L1, sinh năm 2003. Địa chỉ: A, đường T, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Văn phòng C1 (tên cũ: Văn phòng C2), Thành phố Hồ Chí Minh. Trụ sở: E L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Lê Thị Minh N, sinh năm 1954; Vắng mặt.
- Ông Bùi Lê An T2, sinh năm 1983; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ liên hệ: E L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Địa chỉ: F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn Hoàng N1, sinh năm 1984. Địa chỉ liên lạc: Số D đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Do có kháng cáo của nguyên đơn – bà Hoàng Thị Hồng P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2021, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 11/9/2023, đơn yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện ngày 02/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Khoảng năm 1960, cha mẹ nguyên đơn là ông Hoàng Văn L2, sinh năm 1938 (chết năm 2021) và bà Đào Thị N2, sinh năm 1942 (chết năm 2010) chung sống với nhau và có 06 người con chung, gồm:
- Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1962;
- Ông Hoàng Đại D, sinh năm 1965;
- Ông Hoàng Trường S, sinh năm 1968;
- Bà Hoàng Thị Hồng L3, sinh năm 1973 (chết năm 2006). Bà L3 có một người con là bà Kiều Hoàng Anh T1, sinh năm 1998. Bà L3 có chồng là ông Kiều Anh M (hiện nay ông M sinh sống tại Mỹ nhưng không rõ năm sinh, địa chỉ);
- Ông Hoàng Trường G, sinh năm 1967 (chết độc thân năm 2003);
- Bà Hoàng Thị Hồng P (tên gọi khác là Osmundsen Hoang Phuc H), sinh năm 1980.
Trong thời gian chung sống, ông L2 và bà N2 không có tài sản chung. Năm 2000, ông L2 được hưởng di sản thừa kế do ông, bà nội của nguyên đơn là ông Hoàng Văn H4 (chết năm 1973) và bà Bùi Thị C (chết năm 1987) để lại nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng Văn L2 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 8463/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 08/8/2000.
Ngày 13/7/2007, ông L2 đã lập Di chúc số 020690 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, để lại căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Hoàng Thị Hồng P.
Căn nhà trên vẫn do anh, chị của bà P là ông Hoàng Đại D và bà Nguyễn Thị Thu H3 đang sinh sống. Hiện nay, do điều kiện về tài chính nên bà P có bàn bạc với ông D, bà H3 bán căn nhà trên để cùng chia giá trị căn nhà, nhưng ông D không đồng ý và cố tình cản trở gây khó khăn cho bà P. Căn nhà trên là di sản bà P được hưởng toàn bộ theo di chúc, nhưng bà P mong muốn chia đều di sản trên theo quy định của pháp luật. Nhà đất nói trên có giá trị khoảng 7.800.000.000 đồng.
Trong thời gian vụ án được giải quyết, nguyên đơn được Tòa án thông báo căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã được ông Hoàng Văn L2 lập Hợp đồng mua bán căn nhà cho bà Nguyễn Thị Thu H3 (địa chỉ: A Lầu B, T, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh – là chị dâu của nguyên đơn và là vợ của ông Hoàng Trường S) vào ngày 24/6/2020. Sau đó, bà H3 đăng bộ rồi tặng cho lại cho anh Hoàng Duy L1, sinh năm 1975 (địa chỉ: A Lầu B, T, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh - là con ruột của ông S, bà H3). Tuy nhiên, tại thời điểm chuyển nhượng mua bán căn nhà trên cho bà H3, bà P khẳng định ông Hoàng Văn L2 đang bệnh nặng và tinh thần không minh mẫn (tại thời điểm bấy giờ, ông L2 đã 82 tuổi), điều bất thường nhất, đó là giao dịch mua bán nhưng không có việc thanh toán tiền mua nhà. Do đó, giao dịch này vi phạm điều cấm và giả tạo theo quy định của pháp luật.
Ngoài căn nhà trên, ông Hoàng Văn L2 còn có một số tiền (tiền gửi và lãi) trong 05 sổ tiết kiệm với số tiền khoảng 680.000.000 đồng gửi tại Ngân hàng V – Địa chỉ: 3 L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (05 sổ tiết kiệm hiện do ông Hoàng Trường S cất giữ.
Ông Hoàng Văn L2 có vợ hai là bà Phạm Thị L. Cha mẹ ông L2 đã chết trước ông L2. Ông L2 không có con riêng, không có con nuôi, không có cha mẹ nuôi. Trước khi chết, ông L2 không để lại nghĩa vụ tài sản.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Tuyên hủy Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05567 lập tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/6/2020 giữa ông Hoàng Văn L2 và bà Nguyễn Thị Thu H3;
- Hủy bỏ nội dung cập nhật sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thu H3 được Chi nhánh Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật ngày 13/7/2020;
- Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 07214 do Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 15/11/2021 giữa bà Nguyễn Thị Thu H3 và anh Hoàng Duy L1;
- Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản gắn khác gắn liền với đất số DC 747366, vào sổ số CS01501 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho anh Hoàng Duy L1 ngày 25/01/2022;
- Xác định nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2. Chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Văn L2, gồm: Bà Phạm Thị L (vợ ông L2), bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Đại D, ông Hoàng Trường S, bà Hoàng Thị Hồng P (cùng là con ông L2) và chị Kiều Hoàng Anh T1 (con bà Hoàng Thị Hồng L3 – chết năm 2006, là cháu ông L2).
Nguyên đơn không nhận thừa kế bằng hiện vật, xin nhận kỷ phần thừa kế bằng 1/6 giá trị nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm thi hành án.
Ngoài các yêu cầu nói trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Nguyên đơn không có công sức đóng góp gì đối với nhà đất tranh chấp nên không yêu cầu. Nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế theo Di chúc của ông Hoàng Văn L2 số 020690 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/7/2007. Nguyên đơn không tranh chấp đối với Di chúc của ông Hoàng Văn L2 số 020690 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/7/2007.
Nguyên đơn đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, về việc:
- Chia thừa kế theo pháp luật số tiền mà ông Hoàng Văn L2 đã gửi tiết kiệm là 555.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1;
- Trước khi chia thừa kế số tiền này, nguyên đơn đồng ý trừ các chi phí mà bị đơn đã bỏ ra để làm đám tang, mua đất, xây mộ cho ông Hoàng Văn L2 là 193.191.000 đồng.
Nguyên đơn đồng ý với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Chứng thư thẩm định giá. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng các chi phí tố tụng sau đây:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng;
- Chi phí thẩm định giá là 15.000.000 đồng;
- Chi phí đăng báo, đài tổng cộng là 3.400.000 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu chia theo kỷ phần thừa kế mà mỗi người được nhận.
2. Bị đơn ông Hoàng Trường S trình bày tại Đơn phản tố ngày 05/3/2023, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của ông Hoàng Văn H4 (chết năm 1973) và bà Bùi Thị C (chết năm 1987) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 8463/2000 ngày 08/8/2000 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Sau khi ông H4 và bà C chết, ông Hoàng Văn L2 được hưởng thừa kế toàn bộ nhà đất nói trên. Ông L2 đã được Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 338361 (số vào sổ CH 00970) ngày 10/7/2014.
Năm 2021, ông Hoàng Văn L2 chết. Cha mẹ ông L2 đã chết trước ông L2. Vợ thứ nhất của ông L2 là bà Đào Thị N2 đã chết năm 2010, sau đó ông L2 mới kết hôn với bà Phạm Thị L. Ông L2 không có con riêng, không có con nuôi, không có cha mẹ nuôi. Trước khi chết, ông L2 không để lại nghĩa vụ tài sản. Hàng thừa kế thứ nhất của ông L2 gồm có:
- Bà Phạm Thị L (vợ ông L2);
- Bà Hoàng Thị H2;
- Ông Hoàng Đại D;
- Ông Hoàng Trường S;
- Bà Hoàng Thị Hồng L3, sinh năm 1973 (chết năm 2006). Bà L3 có chồng là ông Kiều Anh M nhưng đã ly hôn trước khi bà L3 chết. Ông M sinh năm nào không biết, hiện nay ông M sống tại Hoa Kỳ nhưng bị đơn không biết địa chỉ để cung cấp cho Tòa án. Bà L3 có một người con chung với ông M là bà Kiều Hoàng Anh T1, sinh năm 1998 hiện đang ở Hoa Kỳ (bị đơn không biết địa chỉ của bà T1 để cung cấp cho Tòa án). Bà L3 không có con riêng, không có con nuôi, không biết bà L3 chết có để lại di chúc hay không;
- Bà Hoàng Thị Hồng P (nguyên đơn).
Ngoài ra, ông L2 còn có một người con nữa tên là Hoàng Trường G (nam), sinh năm 1976, chết độc thân năm 2003.
Ngày 24/6/2020, tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), ông Hoàng Văn L2 đã lập Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 05567, để bán nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị Thu H3 với giá là 3.500.000.000 đồng. Hai bên đã thực hiện xong thủ tục mua bán, bà H3 đã thanh toán tiền cho ông L2, ông L2 đã bàn giao nhà cho bà H3. Bà H3 đã được cập nhật tên trên giấy chứng nhận vào ngày 13/7/2020.
Ngày 15/11/2021, tại Văn phòng C1, bà Nguyễn Thị Thu H3 đã lập Hợp đồng tặng cho con là anh Hoàng Duy L1 nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/01/2022, anh L1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền và tài sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 747366, số vào sổ CS01501.
Hiện nay, ông đang ở tại nhà đất trên cùng với bà Hoàng Thị H2 và chị Nguyễn Kim X để trông coi thay cho anh Hoàng Duy L1. Những người có hộ khẩu tại nhà, gồm: Bà Hoàng Thị H2, chị Nguyễn Kim X, ông Hoàng Trường S và ông Hoàng Đại D.
Trước đây, ông Hoàng Văn L2 có lập Di chúc số 15914, quyển số 12 do Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận ngày 25/12/2019, để lại nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho cháu nội là anh Hoàng Duy L1. Tuy nhiên, trước khi di chúc có hiệu lực, thì ông L2 đã bán nhà đất này cho bà Nguyễn Thị Thu H3.
Khi đến Tòa án, bị đơn mới được biết về di chúc của ông Hoàng Văn L2 số 020690 lập tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/7/2007. Theo di chúc này, thì ông L2 để lại nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Hoàng Thị Hồng P. Bị đơn không tranh chấp, không yêu cầu gì đối với di chúc của ông Hoàng Văn L2 lập ngày 13/7/2007 trong vụ án này.
Bị đơn không tranh chấp với 02 bản di chúc nói trên, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ: Trước khi chết, ông L2 đã bán nhà đất nói trên cho bà Nguyễn Thu H3. Sau đó, bà H3 đã tặng cho con trai là anh Hoàng Duy L1, nên hiện nay L1 là chủ sở hữu nhà đất tranh chấp. Bị đơn có yêu cầu phản tố sau đây:
- Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Hoàng Văn L2, đó là số tiền mà ông L2 đã gửi tiết kiệm 555.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1, cụ thể như sau:
- Sổ tiết kiệm số [...] tại Phòng G1, số tiền gửi 100.000.000 đồng;
- Các sổ tiết kiệm sau đây tại Phòng G2:
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 7.000.000 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 128.100.000 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 283.000.000 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 22.900.000 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 14.000.000 đồng;
Bị đơn yêu cầu được nhận 1/12 số tiền 555.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tại thời điểm thi hành án.
- Trước khi chia thừa kế, yêu cầu trả lại cho bị đơn số tiền 193.191.000 đồng, là số tiền bà bị đơn bỏ ra để lo chi phí mai táng, xây mộ cho ông Hoàng Văn L2, gồm: Chi phí làm đám tang là 70.000.000 đồng và chi phí mua đất, xây mộ là 123.191.000 đồng.
Ngoài các yêu cầu trên, bị đơn không còn yêu cầu nào khác. Bị đơn không có yêu cầu giải quyết các chi phí sửa chữa, tôn tạo, gìn giữ, bảo quản và làm tăng giá trị nhà đất tranh chấp.
Bị đơn đồng ý với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ. Bị đơn đã được Tòa án công bố nội dung Chứng thư thẩm định giá số A.193/23/SaigonPA/HS ngày 01/12/2023 của Công ty T5, theo đó nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị là 10.078.507.198 đồng (giá đất 9.685.333.000 đồng và giá trị xây dựng là 393.174.198 đồng). Bị đơn không đồng ý giá này vì quá cao. Tòa án đã giải thích về việc bị đơn có quyền yêu cầu thẩm định giá lại hoặc định giá tài sản tranh chấp. Bị đơn đã hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan, nhưng bị đơn không yêu cầu thẩm định giá lại, không yêu cầu định giá. Bị đơn không đồng ý nộp chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn yêu cầu được nhận thừa kế bằng hiện vật, bị đơn sẽ nhận nhà và trả lại kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác bằng giá trị tại thời điểm thi hành án.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3.1. Bà Hoàng Thị H2 trình bày tại bản tự khai ngày 01/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, như sau:
Bà là con của ông Hoàng Văn L2 và bà Đào Thị N2. Bà có cùng lời khai với bị đơn là ông Hoàng Trường S như ông S đã trình bày nói trên. Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Hiện nay, bà đang sinh sống tại căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của cháu bà là anh Hoàng Duy L1 là chủ sở hữu. Ngoài bà H2, thì còn có con gái bà là chị Nguyễn Kim X hiện đang sinh sống tại đây.
Bà đồng ý với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà đã được Tòa án công bố nội dung Chứng thư số A.193/23/SaigonPA/HS ngày 01/12/2023 của Công ty T5, theo đó nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị là 10.078.507.198 đồng (giá đất 9.685.333.000 đồng và giá trị xây dựng là 393.174.198 đồng). Bà không đồng ý giá này vì quá cao. Tòa án đã giải thích về việc bà có quyền yêu cầu thẩm định giá lại hoặc định giá tài sản tranh chấp. Bà đã hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan, nhưng bà không yêu cầu thẩm định giá lại, không yêu cầu định giá. Bà không đồng ý nộp chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi hay nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
3.2. Bà Phạm Thị L trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, như sau:
Bà là vợ của ông Hoàng Văn L2, hai bên có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyền số 01/2015 ngày 11/5/2015 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 29/9/2021, ông Hoàng Văn L2 chết. Bà có nghe nói ông L2 có để lại di chúc cho cháu nội là anh Hoàng Duy L1, nhưng nội dung di chúc thế nào thì bà không biết.
Hàng thừa kế của ông Hoàng Văn L2 gồm có: Bà (Phạm Thị L) là vợ ông L2 và 06 người con gồm: Bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Đại D, ông Hoàng Trường S, bà Hoàng Thị Hồng L3 (sinh năm 1973, chết 2006 và không để lại di chúc; Bà L3 có chồng là ông Kiều Anh M (không rõ năm sinh) và con là bà Kiều Hoàng Anh T1 (sinh năm 1999). Ông M và bà T1 ở Hoa Kỳ, không có địa chỉ nên không thể cung cấp cho Tòa án), ông Hoàng Trường G (sinh năm 1976, chết độc thân năm 2003) và bà Hoàng Thị Hồng P.
Ông L2 không có con nuôi, không có con riêng. Cha mẹ ông L2 là ông Hoàng Văn H4 (chết năm 1973) và bà Bùi Thị C (chết năm 1987), chết trước ông L2. Về nguồn gốc nhà đất tranh chấp số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Nhà đất này trước đây là tài sản của cha mẹ ông Hoàng Văn L2 là ông Hoàng Văn H4 và bà Bùi Thị C. Cha mẹ của ông L2 chết không để lại di chúc, cha mẹ ông L2 chỉ có ông L2 là con, nên ông L2 đã lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 30/6/2014 tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh (số A, quyền số 6). Ngày 10/7/2014, ông Hoàng Văn L2 được Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 338361 (số vào sổ CH00970). Như vậy, nhà đất này là tài sản mà ông L2 được hưởng thừa kế từ cha mẹ, không phải là tài sản riêng của vợ chồng ông L2, bà Đào Thị N2 (chết năm 2010). Khi ông Hoàng Văn L2 còn sống, ông L2 đã bán nhà đất này cho bà Nguyễn Thị Thu H3. Hai bên có ký Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại cơ quan công chứng theo quy định. Bán bao nhiêu tiền, thì bà không biết và bà cũng không liên quan đến số tiền đó. Hai bên đã thực hiện xong thủ tục mua bán theo đúng quy định.
Sau khi được đứng tên trên giấy chứng nhận, bà Nguyễn Thị Thu H3 đã tặng cho con trai của bà H3 là anh Hoàng Duy L1 (cháu nội của ông Hoàng Văn L2). Hai bên đã thực hiện xong thủ tục tặng cho và anh Hoàng Duy L1 đã được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 747366 (số vào sổ CS 01501) ngày 25/01/2022.
Bà không biết gì về di chúc mà ông Hoàng Văn L2 lập để lại nhà đất nói trên cho bà Osmuadsen Hoang Phuc H5 (Hoàng Thị Hồng P). Hôm nay Tòa án cho bà xem bản di chúc lập ngày 13/7/2007 tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh (số B, quyển số 01), bà có ý kiến như sau: Sau di chúc nói trên, thì ông L2 còn lập thêm một di chúc nữa để cho cháu nội là anh Hoàng Duy L1 nhà đất này. Mặt khác, khi ông L2 còn sống, ông L2 đã bán nhà đất này cho bà H3, thủ tục mua bán đã xong, nên nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là di sản thừa kể của ông L2 nữa, mà là tài sản của anh Hoàng Duy L1. Vì vậy, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà không biết giá trị nhà đất tranh chấp, nên không đưa ra giá để thỏa thuận với các đương sự khác. Bà cũng không yêu cầu định giá, thẩm định giá, đề nghị Tòa án tiến hành theo quy định, bà không có ý kiến gì.
Đối với số tiền mà ông Hoàng Văn L2 gửi tiết kiệm ở ngân hàng: Bà có biết việc ông L2 gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng, nhưng khi ông L2 chết thì ông Hoàng Trường S (là con trai ông L2) có ứng tiền để lo đám tang, mồ mả cho ông L2, số tiền mà S bỏ ra khoảng 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Vì vậy, bà đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Trường S, lấy tiền tiết kiệm trừ đi số tiền ông S đã tạm ứng, phần còn lại chia thừa kế theo pháp luật, vì đối với khoản tiền tiết kiệm này ông Hoàng Văn L2 không để lại di chúc.
Tòa án đã giải thích các quy định pháp luật liên quan đến thừa kế, quyền yêu cầu độc lập cho bà biết, nhưng bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, nếu bà được hưởng di sản của ông L2 thì bà xin nhận. Do bà đã già, đi lại khó khăn nên bà xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân các cấp giải quyết vụ án.
3.3. Bà Nguyễn Thị Thu H3 trình bày tại bản tự khai ngày 01/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, như sau:
Ngày 24/6/2020, tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, bà và ông Hoàng Văn L2 đã lập Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 05567 đối với nhà đất tại số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác hắn liền với đất số CH00970 do Ủy Ban nhân dân Quận A cấp ngày 10/7/2014. Giá mua bán thanh toán là 3.500.000.000 đồng, bà đã thanh toán đủ tiền cho ông L2, ông L2 đã bàn giao nhà cho bà. Bà đã được cập nhật tên trên giấy chứng nhận vào ngày 13/7/2020.
Ngày 15/11/2021, tại Văn phòng C1, bà đã lập hợp đồng tặng cho con là anh Hoàng Duy L1 và đến ngày 25/01/2022, anh L1 đã được cấp đổi giấy chứng nhận.
Tại thời điểm mua bán, tặng cho nhà đất không có tranh chấp (đã được cấp giấy chứng nhận), việc mua bán, tặng cho được lập hợp đồng có công chứng hợp lệ. Các bên mua bán, tặng cho thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì bà sẽ khởi kiện trong một vụ án khác. Bà đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà trong vụ án, nhưng bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
3.4. Anh Hoàng Duy L1 trình bày tại các bản tự khai ngày 28/3/2023 và ngày 26/3/2024, như sau:
Ngày 15/11/2021 tại Văn phòng C1 (Văn phòng C2 cũ) số E L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, anh L1 đã được mẹ là bà Nguyễn Thị Thu H3 lập hợp đồng tặng cho căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 25/01/2022, anh đã được cấp đổi lại Giấy chứng nhận đứng tên Hoàng Duy L1. Tại thời điểm mua bán, tặng cho nhà đất không có tranh chấp (đã được cấp giấy chứng nhận), việc mua bán, tặng cho được lập hợp đồng có công chứng hợp lệ, các bên mua bán, tặng cho thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn, anh Hoàng Duy L1 đề nghị Tòa án không chấp nhận vì nhà đất hiện nay thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh L1, không phải là di sản do ông Hoàng Văn L2 để lại. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, anh L1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì anh Hoàng Duy L1 sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
Anh L1 không tranh chấp đối với di chúc số 15914, quyền số 12 do Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận ngày 25/12/2019, để lại nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Hoàng Văn L2 lập cho cháu nội là anh Hoàng Duy L1.
Anh L1 đồng ý với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ. Anh L1 đã được Tòa án công bố nội dung Chứng thư thẩm định giá số A.193/23/SaigonPA/HS ngày 01/12/2023 của Công ty T5, theo đó nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị là 10.078.507.198 đồng (giá đất 9.685.333.000 đồng và giá trị xây dựng là 393.174.198 đồng). Anh L1 không đồng ý giá này và đã được Tòa án giải thích về việc anh có quyền yêu cầu thẩm định giá lại hoặc định giá tài sản tranh chấp. Anh L1 đã hiểu rõ các quy định của pháp luật liên quan, nhưng anh L1 không yêu cầu thẩm định giá lại, không yêu cầu định giá.
3.5. Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh (có bà Lê Thị Minh N đại diện theo ủy quyền) trình bày tại bản tự khai ngày 07/11/2023, như sau:
Về yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà ở số công chứng 05567 ngày 24/6/2020 do Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận:
Ngày 24/6/2020, ông Hoàng Văn L2 có phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng mua bán căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi đã kiểm tra các giấy tờ do người yêu cầu công chứng cung cấp và tra cứu thông tin tài sản không bị ngăn chặn trên Cổng thông tin công chứng của Sở Tư pháp. Công chứng viên đã ký tên và đóng dấu Văn phòng Công chúng chứng nhận hợp đồng mua bán căn nhà F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có số công chứng 05567 ngày 24/6/2020, theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở và Luật công chứng. Như vậy, Hợp đồng mua bán căn nhà số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có số công chứng 05567 ngày 24/6/2020 giữa ông Hoàng Văn L2 và bà Nguyễn Thị Thu H3 có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký, đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng và có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan.
Từ những trình bày như trên, không có cơ sở để hủy hợp đồng mua bản căn nhà F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có số công chứng 05567 ngày 24/6/2020 giữa ông Hoàng Văn L2 và bà Nguyễn Thị Thu H3.
Về yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà ở số công chứng 07214 ngày 15/11/2021 do Văn phòng C1 chứng nhận:
Ngày 15/11/2021, bà Nguyễn Thị Thu H3 có Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng tặng cho nhà đất tại F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi đã kiểm tra các giấy tờ do người yêu cầu công chứng cung cấp và tra cứu thông tin tài sản không bị ngăn chặn trên Cổng thông tin công chứng của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, Công chứng viên đã ký tên và đóng dấu Văn phòng công chứng, chứng nhận hợp đồng tặng cho nhà đất tại F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có số công chứng 07214, theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật công chứng. Như vậy, hợp đồng tặng cho nhà đất giữa bà Nguyễn Thị Thu H3 và anh Hoàng Duy L1 có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký, đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng và có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan.
Từ những trình bày như trên, không có cơ sở để hủy hợp đồng tặng cho nhà đất tại F L, Phường A, Quận A giữa bà Nguyễn Thị Thu H3 và anh Hoàng Duy L1. Văn phòng C1 xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
3.6. Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (có ông Văn Hoàng N1 đại diện) trình bày tại bản đơn trình bày ý kiến ngày 17/01/2024, như sau:
Nhà đất tại địa chỉ số F đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân Quận A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00970 ngày 10/7/2014 với chủ sở hữu là ông Hoàng Văn L2.
Ngày 13/7/2020, Chi nhánh Văn phòng C2 cập nhật thông tin biến động chủ sở hữu mới là bà Nguyễn Thị Thu H3 (tài sản riêng), căn cứ Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5567 lập tại Văn phòng C2 ngày 24/6/2020, đã trước bạ ngày 03/7/2020.
Ngày 15/11/2021, bà Nguyễn Thị Thu H3 tặng cho căn nhà trên cho con là anh Hoàng Duy L1 theo Hợp đồng tặng cho số 07214 lập tại Văn phòng C1.
Sau khi được tặng cho, anh L1 nộp hồ sơ đăng ký cấp đổi Giấy chứng nhận và ngày 25/01/2022 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS01501 với chủ sở hữu là anh Hoàng Duy L1.
Quá trình giải quyết hồ sơ đăng ký biến động vào năm 2020 của Chi nhánh Văn phòng C2 và cấp đổi Giấy chứng nhận vào năm 2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và quy định pháp luật.
Ông Văn Hoàng N1 có đơn xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P), về việc:
1.1. Tuyên hủy Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05567 lập tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/6/2020 giữa ông Hoàng Văn L2 và bà Nguyễn Thị Thu H3;
1.2. Hủy bỏ nội dung cập nhật sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thu H3 được Chi nhánh Văn phòng C2 cập nhật ngày 13/7/2020;
1.3. Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số 07214 do VPCC Nguyễn Lê N3, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 15/11/2021 giữa bà Nguyễn Thị Thu H3 và anh Hoàng Duy L1;
1.4. Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản gắn khác gắn liền với đất số DC 747366, vào sổ Giấy chứng nhận số CS01501 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho anh Hoàng Duy L1 ngày 25/01/2022;
1.5. Xác định nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2. Chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Văn L2, gồm: Bà Phạm Thị L, bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Đại D, ông Hoàng Trường S, bà Hoàng Thị Hồng P và chị Kiều Hoàng Anh T1 (con bà Hoàng Thị Hồng L3 – chết năm 2006, là cháu ông L2). Nguyên đơn không nhận thừa kế bằng hiện vật, xin nhận kỷ phần thừa kế bằng 1/6 giá trị nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm thi hành án.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Trường S, về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Hoàng Văn L2 là số tiền mà ông L2 đã gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (Phòng G3 và Phòng G2) là 555.000.000 (năm trăm năm mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2024); Yêu cầu hoàn trả cho bị đơn số tiền chi phí mai táng, xây mộ cho ông Hoàng Văn L2 là 193.191.000 (một trăm chín mươi ba triệu một trăm chín mươi mốt nghìn) đồng.
2.1. Xác định số tiền 555.000.000 (năm trăm năm mươi lăm triệu) đồng mà ông Hoàng Văn L2 đã gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (23/5/2024) là 60.145.090 đồng, tổng cộng 615.145.090 (sáu trăm mười lăm triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm chin mươi) đồng, là di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2, cụ thể như sau:
2.1.1. Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 - Phòng G1: Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi 100.000.000 (một trăm triệu) đồng; Tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 11.550.409 đồng. Tổng cộng là: 111.550.409 (một trăm mười một triệu năm trăm năm mươi nghìn bốn trăm lẻ chín) đồng.
2.1.2. Các Sổ tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 - Phòng G2:
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 7.000.000 đồng; T3 lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 759.543 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 128.100.000 đồng; T3 lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 13.637.211 đồng.
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 283.000.000 đồng; T3 lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 30.238.745 đồng;
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 22.900.000 đồng; T3 lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 2.431.918 đồng.
- Sổ tiết kiệm số [...], số tiền gửi là 14.000.000 đồng; T3 lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 1.517.261 đồng.
Tổng cộng là: 503.594.681 (năm trăm lẻ ba triệu năm trăm chin mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi mốt) đồng, trong đó tiền gốc là 455.000.000 (bốn trăm năm mươi lăm triệu) đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/5/2024 là: 48.594.681 (bốn mươi tám triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi mốt) đồng.
2.2. Xác định số tiền mà ông Hoàng Trường S đã nộp tạm ứng để chi phí cho tang lễ, mộ phần của ông Hoàng Văn L2 tổng cộng là 193.191.000 (một trăm chín mươi ba triệu một trăm chín mươi mốt nghìn) đồng.
2.3. Di sản của ông Hoàng Văn L2 là số tiền 615.145.090 (sáu trăm mười lăm triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn không trăm chin mươi) đồng, được trả cho ông Hoàng Trường S chi chi phí làm tang lễ, mộ phần của ông Hoàng Văn L2 tổng cộng là 193.191.000 (một trăm chín mươi ba triệu một trăm chín mươi mốt nghìn) đồng. Vì vậy, di sản của ông Hoàng Văn L2 còn lại là: 615.145.090 đồng - 193.191.000 đồng = 421.954.090 (bốn trăm hai mươi mốt triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn không trăm chín mươi) đồng.
2.4. Những người được hưởng di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2, gồm: Bà Phạm Thị L, bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Đại D, ông Hoàng Trường S, bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) và bà Kiều Hoàng Anh T1 (bà T1 là người thừa kế thế vị của bà Hoàng Thị Hồng L3).
2.5. Di sản còn lại của ông Hoàng Văn L2 là số tiền 421.954.090 (bốn trăm hai mươi mốt triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn không trăm chín mươi) đồng, được chia làm 06 (sáu) phần bằng nhau cho những người được hưởng di sản của ông Hoàng Văn L2 gồm: Bà Phạm Thị L, bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Trường S, ông Hoàng Đại D, Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) và bà Kiều Hoàng Anh T1 (bà T1 là người thừa kế thế vị của bà Hoàng Thị Hồng L3), mỗi người được nhận 1/6 giá trị di sản tương đương 70.325.681 (bảy mươi triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi mốt) đồng.
Số tiền lãi phát sinh từ ngày 24/5/2024 đến ngày thi hành án của các Sổ tiết kiệm nêu tại mục [2.1] nói trên, sẽ được chia cho bà Phạm Thị L, bà Hoàng Thị H2, ông Hoàng Trường S, ông Hoàng Đại D, Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) và bà Kiều Hoàng Anh T1 (bà T1 là người thừa kế thế vị của bà Hoàng Thị Hồng L3), mỗi người được nhận 1/6.
Giao kỷ phần thừa kế mà bà Kiều Hoàng Anh T1 được nhận là 70.325.681 (bảy mươi triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi mốt) đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/5/2024 đến ngày thi hành án cho ông Hoàng Trường S tạm giữ. Ông Hoàng Trường S có nghĩa vụ giao lại cho bà Kiều Hoàng Anh T1 số tiền này.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh còn quyết định về án phí và chi phí tố tụng, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/5/2024, đại diện của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo: đề nghị xem xét lại án phí chia thừa kế đối với số tiền tiết kiệm của ông L2 vì về nội dung này, các đương sự đều thống nhất với nhau việc chia thừa kế trước khi xét xử. Ngoài ra, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2. Chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Văn L2, hủy các hợp đồng mua bán và tặng cho nhà đất liên quan đến diện tích nhà đất này.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Cấp sơ thẩm cho rằng căn nhà 601 Lê Hồng P1 là ông L2 đứng tên nên có quyền định đoạt. Năm 2007 ông L2 đã lập di chúc cho bà P. Đến sau năm 2013, do GCNQSH nhà bị mất, khi đi làm lại GCN nhà mới thì làm lại di chúc cho ông S. Tuy nhiên, sau đó ông L2 lại lập Hợp đồng mua bán căn nhà trên cho bà H3. Việc mua bán nhà giữa ông L2 và bà H3 có nhiều yếu tố không hợp lý. Cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ được quá trình thanh toán mua bán căn nhà nói trên, số tiền 3,5 tỷ đồng không có trong số tiền tiết kiệm của ông L2, nên cần phải làm rõ số tiền bán nhà đã đi về đâu? Đối với số tiền tiết kiệm, mặc dù ông S có đơn phản tố, nhưng trước khi xét xử các bên đã hoà giải nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận thỏa thuận giữa các bên, lại đưa ra xét xử và tính án phí là ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm để xem xét lại nghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng mua bán căn nhà số F L.
* Bị đơn ông Hoàng Trường S và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Hoàng Thị H2, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị Thu H3 không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
- Về tố tụng: Chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đúng quy định. Kháng cáo của đại diện nguyên đơn - ông Nguyễn Văn H1 nằm trong hạn nên được xem xét theo quy định.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập và đánh giá đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ nên bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1 – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Ông H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn – bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) vắng mặt, nhưng có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H1 có mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Kim X, bà Kiều Hoàng Anh T4, anh Hoàng Duy L1, đại diện Văn phòng C1 và đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Đối với yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 05567 lập tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/6/2020 giữa ông Hoàng Văn L2 và bà Nguyễn Thị Thu H3; Hủy nội dung cập nhật sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thu H3 ngày 13/7/2020 trên giấy chứng nhận.
Căn cứ công văn số 3814/CNQ10 ngày 16/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của các bên đương sự, thì nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trước đây là tài sản của vợ chồng ông Hoàng Văn H4 (chết năm 1973), bà Bùi Thị C (chết năm 1987). Ông Hoàng Văn H4 và bà Bùi Thị C là cha, mẹ của ông Hoàng Văn L2. Nhà đất này đã được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 8463/2000 ngày 08/8/2000 cho ông Hoàng Văn H4 (chết năm 1973), bà Bùi Thị C (chết năm 1987), do con là ông Hoàng Văn L2 đại diện đứng đơn khai trình, trước bạ ngày 08/01/2001.
Ngày 16/5/2014, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP907604 (số vào sổ CH00948) cho ông Hoàng Văn L2 (cấp lại do bị mất giấy chứng nhận số 8463/2000), ông L2 là người đại diện những người thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Ngày 30/6/2014, ông Hoàng Văn L2 nhận di sản thừa kế của ông Hoàng Văn H4 và bà Bùi Thị C theo Văn bản khai nhận di sản thừa kế số 10744 quyển số 06, lập tại Văn phòng C2 ngày 30/6/2014. Ngày 10/7/2014, ông Hoàng Văn L2 được Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 338361, số vào sổ CH 00970 (cấp đổi giấy chứng nhận do thừa kế). Như vậy, nhà đất nói trên là tài sản riêng của ông Hoàng Văn L2, ông L2 được hưởng thừa kế từ cha mẹ của ông L2, phù hợp với lời khai của các đương sự trong vụ án về nguồn gốc tài sản. Ông Hoàng Văn L2 được thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà và người sử dụng đất quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 của Luật Nhà ở năm 2014, khoản 3 Điều 6 và khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2014, nhà ở nêu trên cũng có đủ điều kiện được tham gia giao dịch.
Ngày 24/6/2020, tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1), Thành phố Hồ Chí Minh, ông Hoàng Văn L2 đã lập Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 05567, để bán nhà đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị Thu H3 với giá là 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng. Tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng nêu trên, hai bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng. Ngày 13/7/2020, bà Nguyễn Thị Thu H3 đã được Chi nhánh Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 338361, số vào sổ CH 00970 ngày 10/7/2014. Thời điểm này ông Hoàng Văn L2 còn sống nhưng hai bên không có tranh chấp gì. Phía nguyên đơn cho rằng hợp đồng chưa hoàn thành, không có việc giao nhận tiền nhưng không cung cấp được tài liệu gì chứng minh. Ngoài ra, phía nguyên đơn, cho rằng tại thời điểm bán nhà, ông Hoàng Văn L2 đang bệnh nặng, tinh thần không minh mẫn, ông L2 đã 82 tuổi nhưng không có giấy khám sức khỏe khi ký hợp đồng bán nhà, không có việc thanh toán tiền mua nhà, nên giao dịch này vi phạm điều cấm và giả tạo theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Mặt khác, pháp luật không bắt buộc phải có giấy khám sức khỏe của các bên khi tham gia giao dịch mua bán nhà. Hơn nữa, trước đó ông Hoàng Văn L2 có lập Di chúc vào ngày 25/12/2019 tại Văn phòng C1 để lại nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho cháu nội là Hoàng Duy L1. Trong thủ tục lập di chúc này, ông Hoàng Văn L2 đã khám sức khỏe theo quy định, cơ quan có thẩm quyền và cơ quan công chứng cũng xác định ông Hoàng Văn L2 minh mẫn, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi lập di chúc.
Từ các phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn L2 với bà Nguyễn Thị Thu H3 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 15/11/2021, giữa bà Nguyễn Thị Thu H3 và anh Hoàng Duy L1; Hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Hoàng Duy L1 ngày 25/01/2022:
Căn cứ Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu, thì sau khi thực hiện xong thủ tục mua bán với ông Hoàng Văn L2, bà Nguyễn Thị Thu H3 đã xác lập quyền sở hữu nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/11/2021, bà Nguyễn Thị Thu H3 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để tặng cho nhà đất nói trên cho anh Hoàng Duy L1. Hợp đồng được Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số 07214 ngày 15/11/2021. Tại thời điểm xác lập giao dịch, Công chứng viên Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận hai bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng. Hình thức của hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Ngày 25/01/2022, anh Hoàng Duy L1 được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản gắn khác gắn liền với đất số DC 747366 (số vào sổ: CS 01501). Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, có văn bản xác định quá trình giải quyết hồ sơ đăng ký biến động vào năm 2020 của Chi nhánh Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh và cấp đổi Giấy chứng nhận vào năm 2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và quy định pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giao dịch tặng cho nhà đất nêu trên là có căn cứ.
Trên cơ sở phân tích trên, nhà, đất số F L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là di sản thừa kế của ông Hoàng Văn L2, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kết nhà đất này cũng như về việc hủy các hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho nhà đất như nêu trên là có cơ sở, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc xem xét lại án phí chia thừa kế số tiền tiết kiệm của ông L2, do Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận thỏa thuận của đương sự và xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về nội dung này nên không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp kháng cáo của phía nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ như đã phân tích, nên chấp nhận.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn - bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1 – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P). Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, được trừ vào án phí tạm nộp theo lai thu số 0004099 ngày 06/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P) đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
|
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà |
|
Nguyễn Văn Hùng Vũ Đức Toàn |
Bùi Thị Thu |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu |
Bản án số 71/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu giải quyết chi phí mai táng; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho nhà, hủy nội dung cập nhật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Số bản án: 71/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu giải quyết chi phí mai táng; yêu cầu hủy hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho nhà, hủy nội dung cập nhật và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1 – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Osmundsen Hoang Phuc H (Hoàng Thị Hồng P). Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
