Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/DS-PT

Ngày: 11-3-2025

V/v: Tranh chấp QSD đất về lối đi chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Minh.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Kiều Lương.

Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 384/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi chung.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2025/QĐ-PT ngày 08/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐPT-DS ngày 19/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C, Tổ B, Ấp F, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Tấn T1, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (ông T1 có mặt, bà H có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Thành D.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Nguyên đơn trình bày:

Ông là chủ quản lý, sử dụng phần diện tích đất 563,5m² thửa đất 218, tờ bản đồ số 22, loại đất ONT theo giấy chứng nhận QSD đất số: BO 214381 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông đứng tên. Nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng của ông G (không nhớ rõ họ tên) năm 2012. Hiện trên phần đất này ông có xây dựng 2 căn nhà cấp 4 mục đích cho người khác thuê. Từ khi nhận chuyển nhượng đất, ông đã sử dụng con đường đất ngang có đoạn 4,3m và 5,9 m dài khoảng 46,6 m, tổng diện tích khoảng 240 m² để đi vào phần đất phía trong của ông nhưng có thời gian con đường bị xình lầy nên không thể tiếp tục đi lại, nên ông cũng như một số người dân dùng lối đi tạm của nhiều người dân trong ấp tự nguyện trừ đất để cùng làm đường đi, hiện tại con đường này có đoạn đổ bê tông và có đoạn vẫn còn đường đất.

Do khoảng tháng 4 năm 2022, ông thấy có người xây toilet và nhà tạm trên con đường đất đi vào phần nhà đất của ông, qua hỏi người dân, ông mới biết người xây dựng công trình trên con đường đi này là ông Lê Văn T nên ông và ông Trần Văn T2 là người cũng mua đất gần đó mới làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND xã L giải quyết. UBND xã L đã tổ chức hòa giải nhưng các bên không thống nhất. Vì vậy, ông và ông T2 tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn ông Trần Văn T2 đã rút đơn khởi kiện, Tòa án đã ra Quyết định tách yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T2 và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông T2. Việc Tòa án tách hồ sơ thành 02 vụ án khác nhau và đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án đối với nguyên đơn ông Trần Văn T2 không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, ông đồng ý không có ý kiến gì.

Trong quá trình Tòa án làm việc thì bị đơn ông Lê Văn T cho rằng phần đất con đường đi tranh chấp là thuộc quyền quản lý của ông Cao Tấn T1, hiện tại ông Cao Tấn T1 là người quản lý sử dụng công trình nhà tạm, toilet và phần đất tranh chấp, ông Lê Văn T không còn quyền lợi gì trên đất. Hiện tại ông Cao Tấn T1 cũng xác định theo lời trình bày của ông Lê Văn T. Tuy nhiên, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Lê Văn T, ông không khởi kiện ông Cao Tấn T1. Vì khi hòa giải ở UBND xã và lời khai ban đầu của ông Lê Văn T tại Tòa án cũng thừa nhận là phần công trình xây dựng trên đất là do ông Lê Văn T xây dựng, còn ông Cao Tấn T1 cho rằng đất của ông, ông phải chứng minh được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, phần đất này theo bản đồ thành lập hiện nay cũng thể hiện rõ là đất đường đi.

Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông thống nhất với Bản đồ hiện trạng số 839/2024 ngày 29/02/2024 do Văn Phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh huyện L đo vẽ và Chứng thư thẩm định giá số 233/TĐG-CT ngày 03/6/2024 của Công ty Cổ phần T4 đã thẩm định. Theo sự chỉ dẫn của ông khi đo đạc, do đất không có ranh giới rõ ràng nên ông có chỉ dẫn nhầm lẫn lấn qua một số thửa đất gồm: Thửa đất 132b, 784b, 784c, 734b, 734c thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Thanh T3 và của ông Huỳnh Thanh L, ông xác định ông không tranh chấp đối với 5 thửa đất này, cũng như với ông T3 và ông L. Vì vậy, đề nghị Tòa án không đưa họ tham gia tố tụng. Ông xác định ông chỉ tranh chấp đối với con đường đi thuộc thửa B, C, D, E có tổng diện tích 223,5m² (0,2m² + 2,2m² + 209,8m² + 11.3m²). Ông đề nghị Tòa án căn cứ Bản đồ hiện trạng thửa đất này để xem xét giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông Lê Văn T phải tháo dỡ nhà tạm và toilet để trả lại đất con đường đi có tổng diện tích 223,5m² (0,2m² + 2,2m² + 209,8m² + 11.3m²) thuộc thửa B, C, D, E theo bản đồ hiện trạng số 839/2024 để ông được thuận tiện đi vào nhà đất của ông. Ông xác định, ông không khởi kiện đối với ông Cao Tấn T1.

Tuy nhiên, khi Tòa án chưa đưa vụ án ra xét xử thì ông Cao Tấn T1 có để một số cái cống nước trên phần đất con đường đi này và chặn trước cửa hông nhà ông nên ông yêu cầu Tòa án xem xét, vì khi hòa giải ở Tòa án ông Cao Tấn T1 có hứa di dời chờ kết quả xét xử nhưng đến nay ông Cao Tấn T1 cũng chưa di dời đề nghị Tòa án yêu cầu ông Cao Tấn T1 phải di dời các ống cống này ra khỏi phần đất con đường đi.

Về hiện trạng đường đi vào nhà đất của ông hiện nay, ông đang sử dụng con đường nhựa + bê tông để đi vào nhà đất của ông, con đường này có chiều

rộng ngang 5 m, chiều dài được nối dài với con đường hương lộ 12 ấp B, xã L như Tòa án đã ghi nhận khi đi xem xét thẩm định.

Về tài sản QSD đất của ông ở trên là tài sản riêng của ông, do ông có vợ nhưng đã ly hôn năm 2015, khi giải quyết ly hôn, ông và vợ (tên Trần Anh P) đã thỏa thuận giải quyết chia tài sản chung xong, còn phần tài sản này không liên quan gì đến bà P.

2. Bị đơn ông Lê Văn T trình bày:

Nguồn gốc đất nguyên đơn tranh chấp thuộc thửa đất số: 1050 và 1051 tờ bản đồ số 5 xã L, huyện L, có nguồn gốc do ông Cao Tấn T1 bạn ông là người đứng tên nhận chuyển nhượng với diện tích đất khoảng 694 m², còn chuyển nhượng của ai, giá chuyển nhượng bao nhiêu thì ông không nhớ. Sau khi chuyển nhượng ông Cao Tấn T1 có rủ ông chia lại một phần diện tích đất này, ông đồng ý và ông cùng ông Cao Tấn T1 cùng có quyền sử dụng chung diện tích đất này, không chia phần cụ thể.

Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất này ông Cao Tấn T1 nhận chuyển nhượng trên 10 năm, sử dụng vào mục đích trồng tràm và đã có thu hoạch 1 lần. Năm 2022, ông có cho xây dựng một nhà chồi tiền chế và một toilet bằng tole và cột sắt khoảng hơn 10m², mục đích để ông ngồi chơi và có chỗ đi vệ sinh. Sau khi xây dựng nhà tiền chế trên thì ông D và ông T3 tranh chấp cho rằng chúng ông xây dựng nhà trên lối đi chung. Ông D và ông T3 cho rằng lối đi chung là không đúng, vì phần đất ông D và ông T3 đang sử dụng có lối đi khác bằng bê tông nối dài tới hương lộ A (đường N). Do ông thấy tranh chấp, nên ông nói với ông Cao Tấn T1 là ông không hùn nữa và ông giao lại cho ông Cao Tấn T1 được quyền sử dụng căn nhà tiền chế và toilet xây dựng trên phần đất tranh chấp (việc thỏa thuận giao lại cho ông T1 chỉ nói miệng không làm giấy tờ). Hiện ông không còn liên quan và quyền lợi nghĩa vụ gì, vì vậy ông không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa xem xét theo quy định pháp luật. Do ông bận nhiều việc nên không thể tham gia tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

3.1. Ông Cao Tấn T1 trình bày:

Phần đất ông D tranh chấp hiện nay do ông là người đang quản lý sử dụng. Đất là tài sản chung của vợ chồng ông. Nguồn gốc ông nhận chuyển nhượng lại của bà Trần Thị H1, sinh năm 1942 cùng là người địa phương vào

khoảng năm 2011 hay năm 2012 ông không nhớ rõ, vì khi chuyển nhượng có làm giấy tay, nhưng do giấy tay bị thất lạc nên khi bà H1 viết lại giấy tay cho ông để nhầm là năm 2003 nên trong quá trình làm việc tại Tòa ý kiến của ông ghi nhận chuyển nhượng ngày 20/4/2003 là không đúng, vì ông nhớ khoảng năm 2011 chính ông Nguyễn Thành D có nhờ ông nhận chuyển nhượng phần đất này nhưng không được mà bà H1 lại chuyển nhượng cho ông và ông có trồng tràm được 1 vụ, sau đó do nước ngập nên không tiếp tục trồng, hiện trên phần đất còn một cây tràm to, nay tại tòa ông đính chính lại đất chuyển nhượng khoảng thời gian năm 2012 là đúng. Khi nhận chuyển nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá chuyển nhượng là 27.000.000 đồng, diện tích khoảng 694m² thuộc 2 thửa 1050 và 1051 tờ bản đồ 05 (cũ) xã L. Do khi nhận chuyển nhượng ông định sau này khi con ông lớn lên để làm chỗ ở cho con và do có phần khó khăn nên chưa đăng ký kê khai để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong quá trình sử dụng đất, do ông Lê Văn T là bạn ông cũng có nhận chuyển nhượng nhiều phần đất ở gần phần đất của ông, nên ông có thỏa thuận với ông Lê Văn T chia cho ông Lê Văn T cùng quản lý, sử dụng chung phần đất này, ông T đồng ý và có mua vật liệu để cùng ông dựng một căn nhà tạm bằng cột sắt và mái tole và xây dựng một toilet để nhằm mục đích trông coi đất của ông Lê Văn T nhưng ông Lê Văn T cũng chưa thanh toán tiền hùn đất lại cho ông. Do sau đó ông D và ông T3 tranh chấp cho rằng đất các ông đang sử dụng là chiếm đất con đường đi có từ trước nên ông Lê Văn T có ý kiến không hùn sử dụng chung phần đất này, ông và ông Lê Văn T thống nhất giao lại cho ông được sở hữu toàn bộ công trình ông Lê Văn T đã bỏ tiền ra xây dựng và ông đã thanh toán lại cho ông Lê Văn T 20.000.000 đồng. Hiện tại, phần công trình và phần đất ông D tranh chấp thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông, ông đang quản lý sử dụng, ông Lê Văn T không còn quyền lợi gì trên đất này cũng như công trình xây dựng trên đất.

Khi ông D tranh chấp, thì ông mới được biết phần đất của ông theo bản đồ mới thành lập thể hiện đất là con đường đi nên ông D mới tranh chấp. Sự việc ông có làm đơn khiếu nại đến Phòng Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ về việc đất của ông theo bản đồ cũ là đất của dân có số tờ số thửa rõ ràng nhưng tại sao thành lập bản đồ mới thể hiện là đất đường đi, sau khi khiếu nại, cơ quan ban ngành tỉnh cùng phối hợp với địa phương huyện, xã đến phần đất xác minh và có lập biên bản và hướng dẫn ông không khiếu nại tiếp nên rút đơn khiếu nại và

yêu cầu đo vẽ để xem xét cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông nhưng kéo dài cho đến hôm nay.

Về ý kiến của ông D cho rằng đất tranh chấp là đất con đường đi có từ trước là không đúng. Vì hiện tại ông D và một số người dân ở tổ A xã L vẫn sử dụng con đường đi khác có từ trước đến nay, con đường bằng bê tông ngang khoảng 5 m dài khoảng 300m, kết nối từ đầu con đường hương lộ 12 đi vào và có liên thông với các con đường đi khác trong ấp, con đường đi này do nhà nước và nhân dân cùng làm, từ đầu con đường cho đến cuối con đường đều có hệ thống điện và đèn thuận lợi cho nhân dân cùng sử dụng. Theo như ông, do ông D phân lô bán nền đối với phần đất của ông D nhưng chưa được tách quyền sử dụng vì không đủ điều kiện và do ông D biết là Nhà nước thành lập bản đồ mới lại quy hoạch đất của ông là đất đường đi nên ông D mới tranh chấp. Vì từ khi nhận chuyển nhượng đất và sử dụng, ông D và ông không có tranh chấp và trong quá trình sử dụng đất ông D có xây dựng hố ga qua phần đất này của ông nên ông có yêu cầu ông D tháo dỡ hố ga trả đất lại cho ông, sự việc này bà H1 chứng kiến và có chửi ông D nên từ đó ông và ông D có sự mâu thuẫn.

Ông xác định phần đất này là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông, nên trong quá trình Tòa án giải quyết, ông có để một số cống nước trên phần đất này để sau này đặt cống nhưng ông D cho rằng đất đường đi và yêu cầu ông di dời, trước khi xét xử, Tòa án có yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng đất tranh chấp chờ kết quả xét xử, ông có hứa di dời nhưng do mấy bữa nay trời mưa lầy lội nên chưa di dời. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D, ông D xác định khởi kiện ông Lê Văn T nên đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.

3.2. Bà Trần Thị H1 trình bày:

Năm 2003, bà có bán cho ông Cao Tấn T1 và bà Vũ Thị H (vợ ông T1) một miếng đất dài 79m, ngang 6m tại ấp X - Bà K với giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), vợ chồng ông T1 đã trả đủ tiền và bà đã bàn giao đất xong, đất không có đường đi, đất bà bán cho ông T1 và nhiều người khác vì đất rộng, nay bà không còn liên quan phần đất đã bán cho ông T1, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Do bà bệnh và già yếu nên không thể đến Tòa án làm việc được yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà (kèm theo đơn đề nghị giải quyết vắng mặt cùng ngày).

3.3. Bà Vũ Thị H trình bày:

Bà là vợ của ông Cao Tấn T1, phần đất ông D trông chấp là tài sản chung của vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H2 như chồng bà trình bày là đúng, bà thống nhất ý kiến trình bày của ông Cao Tấn T1. Do bà bệnh và bận việc nên không thể tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, xét xử vắng mặt bà

4. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành D đối với bị đơn ông Lê Văn T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lối đi chung”.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

5. Kháng cáo:

Ngày 26/9/2024, ông Nguyễn Thành D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

6. Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục kháng cáo: Thực hiện đúng trong thời hạn, nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, kháng cáo đúng thẩm quyền nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm không có vi phạm nghiêm trọng.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thành D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Về án phí phúc thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Thủ tục kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, người kháng cáo nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tài liệu chứng cứ.

[2] Xét nội dung kháng cáo: Ông Nguyễn Thành D, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của ông.

Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

- Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 223,5m² thuộc thửa B, C, D, E theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 839/2024 ngày 29/02/2024 là một phần diện tích đường đất thuộc tờ bản đồ số 36 theo tài liệu năm 2016, tương ứng tài liệu năm 1996 thuộc thửa 1050 và một phần thửa 1051 tờ bản đồ số 5 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phù hợp lời khai của ông Cao Tấn T1 và bà Trần Thị H1 về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là thửa 1050 và 1051 tờ bản đồ số 5, xã L do ông T1 nhận chuyển nhượng bằng giấy tay của bà Trần Thị H1. Mặc dù, ông T1, bà H1 khai khác nhau về thời điểm viết giấy tay và giá chuyển nhượng, nhưng giữa bà H1 và ông T1 không tranh chấp với nhau, từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông T1 là người quản lý, sử dụng đất để trồng tràm, sau đó do đất ngập nước nên không trồng tràm được nữa.

- Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Thẩm định giá tài sản tranh chấp ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, thực tế đất không có đường đi mà nằm liền kề bên hông nhà và đất thuộc quyền sử dụng của ông D, trên đất có hai công trình xây dựng là nhà tạm và 01 toilet do ông Cao Tấn T1 là người quản lý sử dụng. Ông D cho rằng đất tranh chấp là con đường đất để ông cùng người dân xung quanh sử dụng đi vào nhà đất của ông là không có căn cứ.

+ Tại Công văn số 5385/VPĐK-KTĐC ngày 24/7/2024 (bút lục 119), Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thể hiện: “Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai có nhận đơn kiến nghị của ông Cao Tấn T1 và có kết hợp địa phương ban ngành để xem xét giải quyết theo Biên bản làm việc ngày 15/02/2023, còn việc

xác định nguồn gốc đất và tính pháp lý của thửa đất là của cơ quan nhà nước địa phương".

+ Tại Công văn số 287/UBND ngày 20/8/2024 (bút lục 244), UBND xã L, huyện L có ý kiến: “Thực tế từ năm 1996 cho đến nay phần đất thuộc thửa số 1050, 1051 tờ bản đồ 05 không phải đường đi công cộng. Theo bản đồ địa chính năm 2006 vị trí thửa đất số 132 giáp thửa đất số 445 có thể hiện phần đường. Theo bản đồ địa chính năm 2016 thể hiện tại thửa đất số 132 tiếp giáp thửa 445 có phần đường đất. Qua kiểm tra hiện trạng ngoài thực tế theo ý kiến của Ban ấp không phải đường dân sinh và không phải đường đi công cộng do UBND xã L quản lý. Đối với phần nhà đất của ông Nguyễn Thành D ở mặt tiền nhà vẫn có đường đi chung của nhiều hộ dân”.

- Khi ông D tranh chấp, diện tích đất tranh chấp theo bản đồ mới thành lập thể hiện đất là con đường đi công cộng thì ông Cao Tấn T1 đã làm đơn khiếu nại đến Phòng T5. Sau khi khiếu nại, cơ quan ban ngành tỉnh cùng phối hợp với địa phương huyện, xã đến phần đất xác minh và có lập biên bản và hướng dẫn ông không khiếu nại tiếp, rút đơn khiếu nại và yêu cầu đo vẽ để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 (theo Biên bản làm việc ngày 15/02/2023 – bút lục 218).

Như vậy, việc ông D cho rằng từ năm 2012, khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 445 tờ bản đồ 22 tại ấp X - Bà Ký xã L thì phần đất đang tranh chấp là đất đường đi là không có căn cứ, năm 2016 khi thành lập bản đồ mới thì phần đất tranh chấp mới thể hiện là đường đi. Tuy nhiên, việc thành lập này không được xác nhận của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương là Ủy ban nhân dân xã L xác nhận (Công văn số 287/UBND ngày 20/8/2024 bút lục 244).

Ngoài ra, ông D trình bày ông và một số người dân ở tổ A xã L vẫn sử dụng con đường đi khác có từ trước đến nay để đi vào đất của ông. Nhưng thực tế con đường ông D đang đi bằng bê tông kết nối từ đầu đường Hương lộ A đi vào và có liên thông với các con đường đi khác trong ấp, do Nhà nước và nhân dân cùng làm, từ đầu con đường cho đến cuối con đường đều có hệ thống điện và đèn thuận lợi cho nhân dân cùng sử dụng nên ông D cho rằng ông Lê Văn T xây dựng công trình cản trở ông D đi lại là không có căn cứ.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành D đối với bị đơn ông Lê Văn T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lối đi chung” là có căn cứ. Ông D kháng cáo đề nghị nghị sửa toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng không có chứng cứ gì khác chứng

minh cho yêu cầu của mình nên không được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông D phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành D.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 152/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Căn cứ Điều 202, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 245 và Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành D đối với bị đơn ông Lê Văn T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lối đi chung".

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

  • Về án phí DSST: Ông Nguyễn Thành D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006508 ngày 13/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.
  • Về án phí DSPT: Ông Nguyễn Thành D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016349 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.
  • Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thành D phải chịu 30.100.000 đồng (Ba mươi triệu một trăm nghìn đồng).

Ông D đã nộp đủ án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - Cục THADS T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - TAND huyện Long Thành.
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi chung

  • Số bản án: 71/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger