TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/DS-PT Ngày 04/4/2025 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán: Mai Vương Thảo.
Nguyễn Ngọc Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lê Anh Pha - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 127/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2024/DSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 291/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 46/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025 và số: 57/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025 và số: 115/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ1. Địa chỉ trụ sở: Thị Trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1953. Chức danh: Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Văn phòng L1. Địa chỉ: P, tòa T, A đường X, quận C, thành phố Hà Nội (Bà Nguyễn Thị Mỹ L tham gia tố tụng theo văn bản số: 0707/QĐ-VPLSBM ngày 07/7/2022) và bà Hoàng Thị D, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Số A B, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền ngày 07/5/2024). Bà D có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Minh T –Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Liên H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số F đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hồ Minh K. Địa chỉ: A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Hoàng Thị T1. Địa chỉ: Số K đường B, quận T, thành phố Đà Nẵng.
+ Ông Phạm Đắc B. Địa chỉ: Số B đường P, quận H, thành phố Đà Nẵng.
- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Đ1 là nguyên đơn và bà Trần Thị Liên H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn là Công ty Cổ phần Đ1 trình bày: Do quen biết và có lòng tin từ trước, Công ty cổ phần Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) do ông Phạm Văn H làm Tổng giám đốc có ký 01 Hợp đồng cho bà Trần Thị Liên H1 mượn tiền cụ thể như sau: Ngày 07/12/2010, Công ty Đ1 ký Hợp đồng cho vay tiền cho bà Trần Thị Liên H1 vay số tiền: 1.000.000.000 đồng hình thức tín chấp, theo lãi suất Ngân hàng. Công ty Đ1 đã giao tiền cho bà H1 bằng tiền mặt: 1.000.000.000 đồng (Phiếu chi số PC 12/12 ngày 7/12/2010), thời hạn vay từ 07/12/2010 đến 07/12/2012. Đến hạn trả nợ không thấy H1 trả tiền nên Công ty Đ1 đã cử ông H liên hệ với bà H1 để yêu cầu bà H1 trả nợ. Tuy nhiên, bà H1 không trả nợ, mà còn trốn tránh. Do đó, Công ty Đ1 do ông Phạm Văn H đại diện theo pháp luật khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Trần Thị Liên H1 trả lại số tiền đã mượn của Công ty Đ1, số tiền gốc là: 1.000.000.000 đồng.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn S trình bày: Theo nội dung thể hiện trong hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn, thời gian xảy ra sự kiện tranh chấp là từ năm 2010 - 2013, thời điểm này ông đang là thành viên Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đ1 nên nắm rõ tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Đ1, bao gồm cả việc Công ty Đ1 ký kết Hợp đồng cho vay tiền ngày 07/12/2010 với bà H1. Đồng thời, hiện nay ông vẫn còn lưu giữ một số tài liệu liên quan đến sự việc này. Do đó, ông khẳng định về bản chất không có sự việc bà Trần Thị Liên H1 vay tiền của Công ty Đ1 vào năm 2010 và bà H1 cũng chưa từng nhận bất kỳ khoản tiền nào từ Công ty CIT như hồ sơ khởi kiện của Công ty Đ1 thể hiện, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, về lý do có sự xuất hiện của Hợp đồng cho vay tiền đề ngày 07/12/2010 giữa bà Trần Thị Liên H1 và Công ty Đ1 (người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn H) như sau: Ông S và bà Trần Thị Liên H1 là vợ chồng hợp pháp. Còn chị ruột của ông S là bà Nguyễn Thị Thanh G sống chung với ông H như vợ chồng từ năm 2010 - 2018. Tại thời điểm năm 2010, ông Phạm Văn H là người trực tiếp điều hành Công ty. Thành viên Hội đồng quản trị Công ty Đ1 thời điểm đó gồm 03 người là ông Nguyễn S, ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh G. Vào năm này, có 03 “sự kiện” lớn ảnh
hưởng đến biến động dòng tiền của Công ty Đ1, bao gồm: Việc tạm ứng vốn thi công từ chủ đầu tư với số tiền hơn 60 tỷ đồng (đầu tư dự án công trình C, Z - Lăng, Bạch Đ thể hiện tại mục “Người mua trả tiền trước” trong báo cáo tài chính năm 2010); Công ty Đ1 nhận chuyển nhượng nhà và đất tại địa chỉ B T, thành phố Đà Nẵng với số tiền hơn 30 tỷ đồng (thể hiện trong mục “trả trước cho người bán” trong báo cáo tài chính năm 2010); Việc tăng vốn điều lệ Công ty Đ1 từ 17 tỷ đồng lên 97 tỷ đồng (thể hiện trong báo cáo tài chính năm 2010). Để hợp thức hóa các số liệu trong báo cáo tài chính của Công ty tại thời điểm này, ông H đã chỉ đạo nhân viên kế toán của Công ty Đ1 thực hiện nhiều hồ sơ, giấy tờ để ký kết các “giao dịch giả tạo” trong năm 2010 và cả các năm sau đó. Cụ thể, ông H đã tự mình và thường xuyên nhờ “người thân” như bà G, bà Phạm Thị H2 (con gái ông H), và bà H1 ký các hồ sơ tài chính bao gồm nhưng không giới hạn các hợp đồng cho vay tiền và các chứng từ liên quan như trong hồ sơ khởi kiện. Tất cả các khoản vay này đều được ghi nhận tại mục “các khoản phải thu khác”, “vay và nợ dài hạn” trong báo cáo tài chính của Công ty Đ1 năm 2010. Vì ông H trình bày việc ký kết các giấy tờ, hồ sơ này là để hợp thức hóa số liệu báo cáo tài chính cho Công ty Đ1 và tin tưởng ông H như người thân trong gia đình, nên bà H1 hoàn toàn không quan tâm đến những nội dung trong các văn bản cần ký kết là gì và chỉ việc ký kết các văn bản này. Thực tế, giữa bà H1 và Công ty Đ1 cũng không diễn ra bất kỳ việc giao, nhận tiền liên quan đến giao dịch cho vay “giả tạo” đã ký kết. Như vậy, thực tế không hề tồn tại giao dịch vay tiền giữa bà Trần Thị Liên H1 với Công ty Đ1, đồng thời cũng không có bất cứ việc giao, nhận tiền nào liên quan đến việc vay vốn này.
Thứ hai, hầu hết các “giao dịch giả tạo” mà ông H nhờ “người thân” ký kết giúp đã được Công ty Đ1 giải quyết dứt điểm. Theo báo cáo tài chính các năm từ năm 2010 đến năm 2014, bà G và bà H2 (những người đã giúp ông H trong các giao dịch ký kết vào năm 2010) đã được Công ty Đ1 “xử lý” dứt điểm các số liệu này vào các năm 2013, 2014 (được thể hiện cụ thể trong báo cáo tài chính các năm). Đối với trường hợp bà H1, việc vay vốn và trả nợ cũng đã được “xử lý” một phần. Cụ thể như sau: Vào ngày 18/4/2011, Công ty Đ1 đã lập phiếu thu số PT09/04 thu tiền mặt với số tiền là 700.000.000 đồng với lý do “Hoàn trả tiền đã mượn Công ty ngày 07/12/2010 (Trần Thị Liên H1)” (thể hiện tại trang 15/37 của sổ chi tiết tiền mặt – tk 111); Tại sổ “Tổng hợp phải thu của khách hàng - tk 1388” cũng thể hiện khoản thu đối với bà H1 là 300.000.000 đồng, số liệu này hoàn toàn trùng khớp với các số liệu thể hiện trong báo cáo tài chính và bản thuyết minh báo cáo tài chính năm 2011 của Công ty Đ1 tại mục 3 “các khoản phải thu khác”.-Từ đó cho thấy, các giao dịch vay tiền “giả tạo” mà ông H nhờ “người thân” ký hầu hết đã được xử lý trên các hồ sơ tài chính. Đối với giao dịch vay tiền do bà H1 ký kết, tính đến hết năm 2011, về mặt số liệu, báo cáo tài chính của Công ty Đ1 thể hiện chỉ còn khoản nợ 300.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 12/8/2024, nguyên đơn có giao nộp bản sao có chứng thực của các báo cáo tài chính của Công ty Đ1
năm 2010, 2011, 2012, qua kiểm tra ông thấy số liệu trong các báo cáo tài chính không phù hợp, số liệu báo cáo cuối kỳ, đầu kỳ không đúng (ví dụ: cuối kỳ 2010 là 23.874.232.769 mà đầu kỳ 2011 là 26.969.196.249 đồng). Do đó, việc ông H đại diện cho Công ty Đ1 khởi kiện đòi bà H1 1.000.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay tiền đề ngày 07/12/2010 là không có căn cứ nên bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với nội dung nói trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2024/DSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 290 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ1 về việc “Đòi tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị Liên H1.
Xử: Buộc bà Trần Thị Liên H1 phải trả cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền: 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng y).
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần Đ1 đối với số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng y).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Liên H1 phải chịu: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng y). Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu: 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng y) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0006230 ngày 19/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nên Công ty Cổ phần Đ1 còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng y).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/8/2024, Công ty Cổ phần Đ1 kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị Liên H1 trả lại số tiền đã mượn của nguyên đơn là 1.000.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 07/12/2010.
Ngày 29/8/2024, bà Trần Thị Liên H1 kháng cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Liên H1 rút đơn kháng cáo. Xét thấy việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Liên H1.
[2] Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1 là nguyên đơn và bị đơn là bà Trần Thị Liên H1 thì thấy: Ngày 07/12/2010, Công ty Đ1 ký Hợp đồng cho bà Trần Thị Liên H1 vay số tiền: 1.000.000.000 đồng, hình thức tín chấp, theo lãi suất Ngân hàng. Thời hạn vay từ 07/12/2010 đến 07/12/2012. Thực hiện hợp đồng, Công ty Đ1 đã giao tiền cho bà H1 1.000.000.000 đồng và bà H1 có ký nhận vào phiếu chi số PC12/12 ngày 07/12/2010. Do bà H1 chưa trả nợ nên Công ty Đ1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Trần Thị Liên H1 trả lại số tiền 1.000.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần Đ1. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khai do có mối quan hệ là người thân trong gia đình với ông H – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Đ1 nên khi ông H điều hành Công ty Đ1 đã nhờ bà H1 ký hợp đồng vay tiền nêu trên để ông H xử lý về tài chính của Công ty Đ1. Ông H có trao đổi với bà H1 chỉ ký hợp thức các giấy tờ vay tiền và Công ty Đ1 sẽ tự hợp thức trả nợ khi đến hạn. Do đó, bà H1 đã ký vào Hợp đồng vay tiền ngày 07/12/2010 và phiếu chi tiền, thực tế bà H1 không nhận tiền nên bà H1 không đồng ý với yêu cầu kiện đòi tiền của Công ty Đ1.
[2.1] HĐXX phúc thẩm xét thấy: Hợp đồng cho vay tiền ngày 07/12/2010 được ký kết giữa Công ty Đ1 và bà Trần Thị Liên H1 được lập thành văn bản, có chữ ký của ông Phạm Đắc B là kế toán trưởng và bà Hoàng Thị T1 là thủ quỹ của Công ty Đ1 tại thời điểm đó. Ngoài hợp đồng vay tiền còn cung cấp Phiếu chi ngày 07/12/2010 và Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/12/2010 đều có chữ ký xác nhận của bà Trần Thị Liên H1. Như vậy, tại thời điểm ký kết các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch.
[2.2] Tại giai đoạn sơ thẩm, cấp sơ thẩm chưa tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng trong phiếu chi tiền ngày 07/12/2010. Do vậy, cấp phúc thẩm đã khắc phục, làm rõ nội dung này. Theo bà Hoàng Thị T1 là thủ quỹ trong phiếu chi tiền ngày 07/12/2010 cung cấp lời khai có ký vào phiếu chi ngày 07/12/2010 và bà xác nhận có việc chi tiền 1.000.000.000 đồng nhưng người nhận thì bà không nhớ rõ. Đối với ông Phạm Đắc B là kế toán trưởng trong phiếu chi tiền ngày 07/12/2010 cũng được Tòa án tiến hành lấy lời khai nhưng ông B không ký vào biên bản xác nhận lời khai trình bày của mình.
[2.3] Như vậy, lời khai của người làm chứng phù hợp với chứng cứ do Công ty Đ1 cung cấp, cũng như lời thừa nhận của người đại diện ủy quyền của bà Trần Thị Liên H1 tại phiên tòa phúc thẩm sau khi rút yêu cầu kháng cáo nên có căn cứ xác định số tiền bà H1 vay 1.000.000.000 đồng là có thật.
[2.4] Diễn biến lời khai của bị đơn cho thấy: Tại giai đoạn sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H1 là ông Nguyễn S cho rằng bà H1 ký hợp đồng vay tiền và phiếu chi nêu trên chỉ nhằm hợp thức hóa các số liệu trong báo cáo tài chính của Công ty Đ1, thực tế không có việc vay tiền nhưng bà H1 không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh được giao dịch vay mượn tiền nêu trên là hợp đồng giả cách. Do đó, các số liệu trong các Báo cáo tài chính năm 2010, 2011, 2012 do các bên đương sự cung cấp cũng như bộ Báo cáo tài chính năm 2012 thu thập từ Cục Thuế tỉnh T của Công ty Đ1 đã báo báo trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp đều không có cơ sở xem xét, đánh giá có việc bà H1 trả tiền cho Công ty Đ1. Hơn nữa, tại Sổ quỹ tiền mặt TK 111 năm 2011 có nội dung ‘"Hoàn trả tiền đã mượn Công ty ngày 07/12/2010 (Trần T2)”, không thể hiện tên cụ thể của bà Trần Thị Liên H1, đồng thời bà H1 cũng như ông H đều không cung cấp được bản gốc phiếu thu PT 09/04 ghi nhận số tiền mình đã trả 700.000.000 đồng cho Công ty Đ1 hoặc ông H trả thay cho bà H1. Việc người đại diện theo ủy quyền của bà H1 cho rằng phiếu thu PT 09/04 đã nộp lại cho Công ty Đ1 để làm chứng từ kế toán là không có cơ sở chấp nhận, bởi theo bà T1 là thủ quỹ xác nhận phiếu thu, chi lúc nào cũng có 2 liên. Điều này cho thấy, nếu bà H1 cho rằng đã không có việc vay tiền thì cũng sẽ không có việc trả tiền. Mặt khác, tại phần xét hỏi phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H1 thay đổi lời khai, thừa nhận bà H1 có trả được 700.000.000 đồng được ghi nhận trong bộ Báo cáo tài chính năm 2012 thu thập từ Cục Thuế tỉnh T của Công ty Đ1 đã báo báo trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp số dư nợ của bà H1 còn 300.000.000 đồng. Xét thấy lời khai của bị đơn là hoàn toàn mâu thuẫn từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm. Ngoài ra, ông S là chồng của bà H1 còn cho rằng năm 2010, bà G (sống với ông H như vợ chồng), bà H2 (con ông H) cũng được ông H nhờ hợp thức hóa chứng từ và tự xử lý việc vay mượn trên hệ thống số sách kế toán như bà H1 nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh (hệ thống kế toán và Báo cáo tài chính chỉ thể hiện có vay, có trả nhưng không chứng minh được là vay thật, trả thật hay hợp thức hóa như ông S khai). Như vậy, ngoài lời khai của mình, ông S, bà H1 không có chứng cứ nào chứng minh hợp đồng vay, phiếu chi tiền và đối chiếu công nợ là giả tạo và cũng không xuất trình được chứng cứ bản gốc phiếu thu PT 09/04 ngày 18/4/2011 nên buộc bà H1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Đ1 1.000.000.000 đồng mới đúng.
[2.5] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp các Báo cáo tài chính từ năm 2011 đến năm 2024, trong đó có biên bản giải trình của ông H về việc điều chỉnh lại số liệu số công nợ của ông H năm 2011 ông H có nộp số tiền 700.000.000 đồng theo phiếu thu PT 09/04 ngày 18/4/2011 gửi Cục Thuế tỉnh T và kèm theo phiếu thu PT09/04 có kế toán trưởng là ông B và thủ quỹ là bà T1 và ông H cùng ký vào phiếu thu. Xét thấy những chứng cứ này được bị đơn cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm liên quan đến việc
điều chỉnh số tiền công nợ do ông H nộp thay cho bà H1, đồng thời ông H cũng không xuất trình được phiếu thu bản gốc nên không có cơ sở xem xét có việc ông H nộp thay cho bà H1 như ông H trình bày.
[3] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng: Việc Công ty Đ1 cho bà H1 vay tiền 1.000.000.000 đồng là có thật và bà H1 chưa trả cho Công ty 700.000.000 đồng nên đề nghị buộc bà H1 phải có nghĩa vụ trả số tiền 1.000.000.000 đồng, không phải là 300.000.000 đồng như cấp sơ thẩm đã nhận định. Quan điểm của Luật sư là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[4] Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1.
[5] Án phí DSST: Bà Trần Thị Liên H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Do chấp nhận kháng cáo nên Công ty Cổ phần Đ1 không phải chịu án phí DSPT. Do bị đơn rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 74/2024/DSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 244, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 290 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Liên H1.
II. Chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Đ1 đối với bà Trần Thị Liên H1.
III. Sửa Bản án sơ thẩm số: 74/2024/DSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ1 đối với bị đơn bà Trần Thị Liên H1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
1.1. Buộc bà Trần Thị Liên H1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).
1.2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí DSST: Bà Trần Thị Liên H1 phải chịu: 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng). Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) theo biên lai thu số 0006230 ngày 19/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
IV. Án phí DSPT: Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004381 ngày 04/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Liên H1 phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004380 ngày 04/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bé |
Bản án số 71/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 71/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phúc thẩm - Cty CIT - Liên Hoa
