TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 71/2025/DS-PT Ngày: 02-6-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thật
Các thẩm phán: Bà Lương Ngọc Yến Anh
Ông Nguyễn Trung Tín
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 5 và ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DSST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức B; địa chỉ: Số G đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B: Ông Hàm Z, sinh năm 1987; địa chỉ: Số H đường A, KP.6, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền ngày 03/4/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành H; địa chỉ: Số A đường Y, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lê Xuân T, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số C (số M) Đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
2/ Bà Trần Thị H1; sinh năm: 1981; địa chỉ: Số C (số M) Đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
3/ Bà Hoàng Hà G; địa chỉ: Số A đường Y, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
4/ Văn phòng C; địa chỉ: Số H đường Y, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức B, ông Nguyễn Thành H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Hàm Z đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/7/2020, ông Nguyễn Thành H có hỏi vay ông Nguyễn Đức B số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng), mục đích vay tiền là để đầu tư cửa hàng bán rau sạch và một phần đầu tư mở quán cà phê, thời hạn vay là 01 năm, lãi suất cho vay hai bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Ngày 27/8/2020, ông B và ông H ký Hợp đồng vay tài sản tại Văn phòng C, số công chứng 15441, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi vay tiền, do ông H không thực hiện việc trả tiền như đã cam kết mặc dù ông B đã yêu cầu ông H trả cho ông khoản tiền vay trên nhiều lần nhưng ông H vẫn không trả. Ông Nguyễn Đức B khởi kiện và yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành H phải trả cho ông B số tiền vay gốc là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi như đã thỏa thuận 20%/năm, thời gian trả lãi tính từ ngày 27/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 02/8/2024. Cụ thể: 500.000.000₫ x 45 tháng 06 ngày x 1,66% = 373.500.000đ. Tổng cộng ông Nguyễn Thành H phải trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 873.500.000đ (tám trăm bảy mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, tại mặt phía sau Hợp đồng vay tài sản ông Nguyễn Thành H có ghi: "...Bên vay tiền đồng ý sử dụng tài sản còn lại của các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản khác gắn liền với đất (đã thế chấp ngân hàng) để cam kết bảo đảm hoàn trả khoản tiền vay nêu trên mà không có bất cứ khiếu nại nào. Mặt khác bên vay tiền đồng ý với bên cho vay tiền được toàn quyền định đoạt giá trị tài sản còn lại sau khi tất toán khoản vay đối với Ngân hàng". Tuy nhiên, sau khi tất toán khoản vay với Ngân hàng ông H không trả tiền vay như đã cam kết với ông B. Ngày 08/11/2021, ông B có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc cấm thực hiện các hành vi nhất định theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G. Ngày 15/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã có Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT. Tại Tòa, ông Nguyễn Đức B đề nghị giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo việc thi hành án.
Ngày 14/9/2023, ông Nguyễn Đức B có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung đề nghị hủy Hợp đồng mua bán ký tại Văn phòng C vì giá mua bán giữa hai bên ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G thấp so với người mua đất ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1. Vì đây là hợp đồng giả cách nhằm tẩu tán tài sản, ý chí không trả nợ tiền vay.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Thành H trình bày:
Ông Nguyễn Đức B khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông Nguyễn Thành H phải trả cho ông B khoản tiền vay gốc là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 27/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 02/8/2024, cụ thể: 500.000.000₫ x 45 tháng 06 ngày x 1,66% = 373.500.000đ. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 873.500.000đ (tám trăm bảy mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông H thừa nhận khoản tiền vay trên và thống nhất với yêu cầu của ông Nguyễn Đức B về khoản tiền lãi. Tổng cộng ông H phải trả cho ông B số tiền gốc và lãi là 873.500.000₫ (tám trăm bảy mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Do hiện nay ông H đang làm ăn thua lỗ nên không có khả năng trả cho ông B ngay đề nghị Tòa án xem xét.
Đối với nội dung ông H ghi sau Hợp đồng vay tài sản ký tại Văn phòng C, ông H có ý kiến như sau: Tại thời điểm cam kết với ông B cả ba thửa đất số: Thửa đất số 1426, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Thửa đất số 582, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do ông H không có khả năng thanh toán khoản vay nên Ngân hàng đã phát mãi nội bộ. Riêng thửa 296, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ông H đã giải chấp. Sau đó ông Nguyễn Thành H và vợ là bà Hoàng Hà G đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 với giá trị tài sản ghi trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng). Nhưng thực tế giá trị chuyển nhượng tài sản là 1.320.000.000₫ (một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng), Hợp đồng chuyển nhượng trên được ký tại Văn phòng C ngày 13/10/2021. Tại Văn phòng công chứng vợ chồng ông T đã giao bằng tiền mặt số tiền 1.300.000.000₫ (một tỷ ba trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông H1, còn lại số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) thì khi nào hoàn tất thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T, bà H1 sẽ giao đủ cho ông H1, bà G.
Quá trình ông B khởi kiện có yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc cấm thực hiện các hành vi nhất định theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60. Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G. Đối với yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tiếp tục thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà nguyên đơn ông B yêu cầu, ông H không có ý kiến gì.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T và bà Trần Thị H1 trình bày:
Ngày 13/10/2021, vợ chồng ông T đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh khánh Hòa của vợ chồng ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD. Tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng, thửa đất 296, tờ bản đồ số 60 không có bất cứ tranh chấp, ngăn chặn nào. Vợ chồng ông T đã giao đủ tiền cho bên bán là ông H, bà G nhận thửa đất và hoàn chỉnh giấy tờ đất. Sau khi công chứng hợp đồng mua bán, vợ chồng ông T đã nộp hồ sơ đăng ký sang tên thửa đất.
Ngày 18/11/2021, vợ chồng ông T nhận được văn bản số 10917/PTC- CNNT của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N về việc từ chối giải quyết hồ sơ của ông, bà. Qua nội dung văn bản số 10917/PTC-CNNT, vợ chồng ông T được biết Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã có Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021.
Ngày 02/12/2021, vợ chồng ông T có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G.
Tại phiên tòa, vợ chồng ông T giữ nguyên yêu cầu độc lập trên và đề nghị Tòa án tuyên hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021 để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng ông T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Ngọc M - Công chứng viên Văn phòng C trình bày tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 01/4/2024:
Vào ngày 13/10/2021, Văn phòng C, tỉnh Khánh Hòa có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G cùng địa chỉ: 1 Y, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 cùng địa chỉ: C đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi kiểm tra, đối chiếu thông tin hồ sơ do hai bên cung cấp, kiểm tra tình trạng pháp lý đối với tài sản chuyển nhượng, xét thấy đủ điều kiện nên ông M tiếp nhận, thụ lý và đã thực hiện công chứng “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021. Trong quá trình tiếp nhận và thụ lý hồ sơ các bên giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận ông M không nhận thấy có sự đe dọa, áp đặt hay ép buộc nào, đồng thời tại thời điểm công chứng hợp đồng Văn phòng công chứng không nhận được bất kỳ thông báo hoặc quyết định nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về ràng buộc hoặc bị hạn chế quyền chuyển dịch đối với tài sản. Như vậy, việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên là do các bên tự nguyện, thỏa thuận của các bên hoàn toàn khách quan, đúng quy định của pháp luật.
Vì lý do công việc bận rộn nên ông Cao Ngọc M xin phép được vắng mặt trong tất cả các bước tố tụng tại Tòa án.
* Đại diện theo pháp luật của Văn phòng C bà Nguyễn Thị Như H2 - Trưởng Văn phòng trình bày:
Bà H2 là Trưởng Văn phòng C đồng ý với giải trình của công chứng viên Cao Ngọc M, không có ý kiến gì khác và sẽ chấp nhận chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật theo phán quyết của Tòa án.
Vì lý do công việc bận rộn nên bà Nguyễn Thị Như H2, đại diện theo pháp luật của Văn phòng C xin được vắng mặt trong tất cả các bước tố tụng tại Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Hà G được Tòa án triệu tập hợp lệ, xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu:
Tại phiên tòa bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 27/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 02/8/2024, cụ thể: 500.000.000₫ x 45 tháng 06 ngày x 1,66% = 373.500.000đ. Việc bị đơn không thanh toán khoản tiền vay trên cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ cũng như thỏa thuận giữa hai bên được ký tại Hợp đồng vay tài sản. Nên đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 873.500.000₫ (tám trăm bảy mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa với giá trị chuyển nhượng là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Quá trình tiến hành tố tụng nguyên đơn có đơn yêu cầu thẩm định giá thửa đất theo giá của thị trường. Tuy nhiên, tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T cung cấp chứng cứ là Giấy nhận tiền và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên được ký cùng ngày tại Văn phòng C, giá trị chuyển nhượng thực tế của thửa đất là 1.320.000.000₫ (một tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng). Vì vậy, nguyên đơn xin rút yêu cầu thẩm định giá theo giá thị trường đối với thửa đất trên. Theo quy định tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 63/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân thì giá trị chuyển nhượng thửa đất trên là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) là không đúng với giá trị thực tế, các bên giao kết hợp đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước. Vì vậy, đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 do vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý nếu các bên có yêu cầu.
Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ông Nguyễn Đức B đề nghị tiếp tục thực hiện Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021 để đảm bảo thi hành án.
Quyết định sơ thẩm:
Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ: Căn cứ Điều 117, khoản 1 Điều 119; Điều 398; Điều 401; Điều 463, Điều 466, Điều 468; của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 167, 168, 169 và 188 Luật đất đất năm 2013, quyết định: 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Thành H trả cho nguyên đơn ông Đức B số tiền 873.500.000₫ (trong đó 500.000.000đ tiền gốc và 373.500.000đ tiền lãi). 2/ Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1. Tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C. 3/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng thực ngày 13/10/2021 giữa ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 là vô hiệu. 4/ Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ- BPKCTT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang. Ông Nguyễn Đức B được nhận lại toàn bộ tài sản bảo đảm là số tiền 100.000.000₫ và tiền lãi phát sinh (nếu có) theo sổ tiết kiệm có kỳ hạn số seri CD 3741860 ngày 12/11/2021, chủ thẻ ông Nguyễn Đức B đang bị phong tỏa tại Phòng G1 Chi nhánh Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H theo quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 12/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 19/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Đức B, có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị sửa bản án sơ thẩm, hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T1, Trần Thị H1; tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn để đảm bảo thi hành án.
Ngày 20/8/2024, bị đơn Nguyễn Thành H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị sửa bản án sơ thẩm, hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T1, Trần Thị H1; tính lại số tiền nợ của ông Nguyễn Đức B yêu cầu.
Lời khai và các tài liệu, chứng cứ các đương sự cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm:
Ông Hàm ZiCo đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc ông Nguyễn Thành H và bà Hoàng Hà G đã nhận đủ số tiền 1.300.000.000đ của ông Lê Xuân T, Trần Thị H1; làm rõ việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng, chứng thực là 200.000.000đ nhưng giá trị chuyển nhượng thực tế là 1.320.000.000đ nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đối với lãi suất theo thỏa thuận giữa ông Nguyễn Đức B và ông Nguyễn Thành H là 20%/năm nên việc ông B yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng đối với số tiền nợ gốc 500.000.000đ là có căn cứ. Tuy nhiên, tại giai đoạn sơ thẩm ông B yêu cầu tính lãi từ ngày 27/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 02/8/2024 là không chính xác vì ông H đã trả 02 tháng tiền lãi nên thời gian tính lãi phải xác định từ ngày 27/11/2020 đến ngày 02/8/2024, cụ thể: 500.000.000₫ x 44 tháng 06 ngày x 1,66% = 365.200.000₫.
Ông Nguyễn Thành H đề nghị ông Nguyễn Đức B xem xét giảm phần lãi suất vì hiện nay không có khả năng trả nợ; đề nghị ông Lê Xuân T và bà Trần Thị H1 xem xét hỗ trợ trả thêm tiền bán đất để ông H1 trả nợ cho ông B. Trường hợp ông T, bà H1 không đồng ý thì hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành H và bà Hoàng Hà G và ông Lê Xuân T, Trần Thị H1 vì ông H1 không nhận tiền của ông T, bà H1.
Ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Thành H và bà Hoàng Hà G đúng quy định pháp luật, được công chứng, đã giao tiền 1.300.000.000đ và ông H, bà G ký xác nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B và ông Nguyễn Thành H; sửa một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất được tính từ ngày 27/11/2020.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 05/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên Bản án số 65/2024/DS-ST. Ngày 19 và ngày 20 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Đức B và bị đơn Nguyễn Thành H kháng cáo bản án nên việc kháng cáo trong thời hạn và được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bà Hoàng Hà G đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; văn phòng công chứng và công chứng viên có văn bản đề nghị vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về tiền nợ gốc: Tại Điều 1, Điều 2 của Hợp đồng vay tiền giữa ông Nguyễn Đức B và ông Nguyễn Thành H được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 15441, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/8/2020, xác định ông B cho ông H vay 500.000.000đ, thời hạn vay từ ngày 27/8/2020 đến ngày 27/8/2021. Lời khai của ông B và ông H đều xác nhận nội dung này. Do đó, đến hết ngày 27/8/2021, ông H không trả tiền cho ông B là vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên việc ông B yêu cầu ông H phải trả số tiền 500.000.000đ là có căn cứ.
[2.2] Về tiền lãi: Tại Điều 3 của Hợp đồng vay tiền giữa ông Nguyễn Đức B và ông Nguyễn Thành H ngày 27/8/2020, xác định lãi suất không quá 20%/năm trên số tiền vay 500.000.000đ. Xét thỏa thuận về lãi suất giữa ông B và ông H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 nên việc ông B yêu cầu H phải trả tiền lãi 1,66%/tháng là có căn cứ. Ông H đã trả cho ông B 2 tháng tiền lãi (tháng 9 và tháng 10 năm 2020) tại Bản án sơ thẩm xác định ông H phải trả cho ông B tiền lãi với lãi 1,66%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 27/10/2020 đến ngày 02/8/2024 tương đương số tiền 373.500.000đ là không chính xác mà thời hạn tính lãi phải bắt đầu từ ngày 27/11/2020 đến ngày 02/8/2024 tương đương số tiền 365.200.000đ. Việc ông H đề nghị ông B xem xét lãi suất được giảm xuống nhưng ông B không chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1: Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành H và bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 đối với thửa đất số 296, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố N, diện tích 519,2m² với giá 200.000.000đ (theo hợp đồng thực tế giá trị của thửa đất hai bên chuyển nhượng là 1.320.000.000₫) đã được công chứng tại Văn phòng C, tại công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021. Ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 đã trả cho ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G số tiền 1.300.000.000đ, ông H, bà G đã giao đất cho ông T, bà H. Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà G và ông T, bà H là đúng quy định pháp luật và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên phải thực hiện nên Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng là có căn cứ; vì vậy việc ông Nguyễn Đức B, ông Nguyễn Thành H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.4] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại khoản 12 Điều 114 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 296, tờ bản đồ số 60, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN600225, vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH06780 do Ủy ban nhân dân thành phố N cấp ngày 06/6/2018. Nhận thấy, từ phân tích tại mục [2.3] xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thành H và bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 có hiệu lực pháp luật và các bên phải tiếp tục thực hiện nên việc nguyên đơn Nguyễn Đức B yêu cầu tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo khoản 12 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Cấm ông Nguyễn Thành H thực hiện các hành vi chuyển đổi, chuyển nhượng, bảo lãnh, tặng cho, cho thuê, góp vốn, để thừa kế đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 296, tờ bản đồ số 60, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN600225, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất số CH06780 do UBND thành phố N cấp ngày 06/6/2018 là để đảm bảo cho việc thi hành án là không có căn cứ. Vì vậy, cần xem xét hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.5] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Đức B xác nhận đã nhận lại khoản tiền bảo đảm 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) đã nộp theo Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 07/2021/QĐ- BPKCTT ngày 12/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Đức B và bị đơn Nguyễn Thành H; cần xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm liên quan đến thời gian tính lãi suất.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm về thời gian tính lãi suất là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 117, khoản 1 Điều 119; Điều 398; Điều 401; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 167, 168, 169 và 188 Luật đất đất năm 2013,
- Căn cứ các Điều 147, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Đức B và bị đơn Nguyễn Thành H, sửa một phần bản án sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Đức B buộc bị đơn ông Nguyễn Thành H trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Đức B số tiền 865.200.000đ (trong đó, tiền nợ gốc 500.000.000đ, tiền lãi 365.200.000₫).
Ngoài ra, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1. Tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/10/2021 tại Văn phòng C giữa ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G và Lê Xuân T1, Trần Thị H1.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 13398, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng thực ngày 13/10/2021 giữa ông Nguyễn Thành H, bà Hoàng Hà G với ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 là vô hiệu.
- Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2021/QĐ-BPKCTT ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Về chi phí tố tụng
- - Nguyên đơn ông Nguyễn Đức B tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và đã nộp đủ.
- Về án phí
- - Ông Nguyễn Đức B phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23, số 0002868 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 14.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0000557 ngày 22/10/2021, hoàn trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền là 13.700.000đ (mười ba triệu bảy trăm nghìn đồng.
- - Ông Nguyễn Thành H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/23, số 0002869 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và 38.505.000đ (ba mươi tám triệu năm trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho ông Lê Xuân T, bà Trần Thị H1 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0000911 ngày 27/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thật |
Bản án số 71/2025/DS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 71/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
