Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 09 -10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ánh Hồng

Ông Phùng Văn Lợi

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:73/ 2024/TLST - HS ngày 18/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đôi với các bị cáo:

  1. Bùi Văn S, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1988; HKTT: C, C, L, H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam con ông Bùi Văn Th, sinh năm 1960 và bà Bùi Thị Nh, sinh năm 1958; vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1993; con 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình

    Tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa

  2. Vũ Thùy L, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1984; HKTT: Quyết T, Ba H, huyện L, Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam con ông Vũ Mạnh Tr, sinh năm 1950 và bà Dương Thị Th ( đã chết); con có 01 con sinh năm 2010; gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ hai trong gia đình

    Tiền án: không; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ L án đến vụ án: Anh Vũ Mạnh Tr, sinh năm 1979, nơi cư trú: Q, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình (có mặt )

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986, nơi cư trú: Xóm Lạt, xã L Sơn, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( vắng mặt)
  2. Nguyễn Trường G, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xóm S, xã Nh, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( vắng mặt )
  3. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình( có mặt )
  4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình( vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 04 năm 2024 Nguyễn Trường G đi chơi tại khu vực Quán Trắng, L Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình thì gặp Bùi Văn S. Khi gặp nhau G và Sơn có rủ nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng (mỗi người góp 300.000₫), S đưa cho Giang 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Nguyễn Trường Giang cầm tiền rồi gọi điện thoại cho Bùi Văn Sđể hỏi mua một gói ma túy. Bùi Văn Sđồng ý và bảo Giang chuyển tiền qua tài khoản cho Sđồng thời hẹn Giang một giờ sau đến nhà Slấy ma túy. Sau đó Nguyễn Trường Giang đi nhờ chị Nguyễn Thị H chuyển khoản số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) cho Sin. Sau khi nhận được tiền Bùi Văn Sgọi điện thoại cho Vũ Thùy L hỏi mua ma túy với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), L đồng ý và bảo Schuyển tiền qua tài khoản cho L, L hẹn Sxuống khu vực dốc Quyết Tiến, thị trấn Ba Hàng Đồi, Lạc Thủy, Hòa Bình để trao đổi mua bán ma túy. Sau đó Sđi xuống dốc Quyết Tiến để mua ma túy khi gặp nhau, L đưa cho Smột gói ma túy được quấn bên ngoài bằng băng dính màu vàng, Scầm gói ma túy của L đưa cho và đi về nhà ở Châu Dể, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình. Khi về đến nhà Slấy một phần ma túy trong gói ma túy vừa mua được ra sử dụng, sử dụng ma túy xong Schia gói ma túy ra thành hai gói ma túy mới, một gói được quấn bằng băng dính màu vàng và một gói được quấn bằng băng dính màu đen, Scất gói ma túy được quấn bằng băng dính màu đen để sử dụng cho bản thân. Được khoảng 15 phút sau Giang đi đến nhà Sin, Sđưa cho Giang gói ma túy được quấn bằng băng dính màu vàng. Nguyễn Trường Giang cầm gói ma túy của Sđưa cho rồi cùng Sơn đi đến khu vực bãi tha ma thuộc Đồng Bon, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình đê sử dụng, khi đang sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện và đưa về trụ sở làm việc.

Đến 12 giờ 15 phút ngày 04 tháng 05 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn Stại thôn Châu Rể, xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Quá trình khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có 01 (một) lọ nhựa có nắp mầu đỏ bên trong có chứa chất lỏng mầu hồng; 01 (một) mảnh giấy bạc một mặt bám dính chất mầu đen; 02 (hai) dao lam; 01 (một) bật lửa ga; 01 (một) kéo bằng kim loại; 06 (sáu) mảnh giấy bạc; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh; 01 (một) gói giấy được bọc bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 (một) gói chứa chất bột mầu trắng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy số 355 ngày 06/04/2024 gửi Phòng PC 09 Công an tỉnh Hòa Bình và Quyết định trưng cầu giám định số 356 ngày 06/042024 gửi Viện khoa học Hình sự Bộ Công an đối với những vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Bùi Văn Sin.

Ngày 10/04/2024, Phòng PC 09 Công an tỉnh Hòa Bình có kết luận giám định số: 185/KL-KTHS Kết luận:

  • Chất dạng cục màu trắng có kí hiệu G1 trong phong bì 01, một mặt có ghi “thu giữ tại vị trí số 05” gửi giám định có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam), là ma túy, loại Heroine.
  • Chất màu đen bám dính trong mảnh giấy bạc kí hiệu G2 trong phong bì 02, một mặt ghi “thu giữ ở vị trí số 02” gửi giám định là ma túy, loại Heroine, chất màu đen quá ít không xác định được khối lượng.

Ngày 16/04/2024, Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có kết luận giám định số: 2616/KL-KTHS Kết luận:

  • -Mẫu chất lỏng màu hồng được niêm phong gửi giám định là dung dịch Methadone; Thể tích mẫu: 9,0ml; Nồng độ Methadone:1,83mg/ml

Trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Đối với Nguyễn Trường G và Nguyễn Văn S đều có mục đích mua ma túy để cho bản thân sử dụng. Hành vi của Nguyễn Tr và Nguyễn Văn S đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ. Ngày 20 tháng 06 năm 2024, Công an huyện Lương Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1076/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Trường G và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1075/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Vũ Thùy L: L khai nhận không biết tên tuổi địa chỉ, khoảng 30 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60. L mua của người đàn ông 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tại khu vực cổng Bến xe Hà Đông cũ thuộc phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh rà soát tại khu vực cổng Bến xe Hà Đông cũ cũng như khu vực lân cận tuy nhiên chưa xác định được đối tượng nào có biểu hiện mua bán tàng trữ trái phép theo như mô tả của Vũ Thùy L. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ bán Methadone cho Sin, S không biết tên tuổi địa chỉ, người phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi dáng người cao gầy ở khu vực ngã ba Đồi Sthuộc Thanh Cao, Lương Sơn, Hòa Bình, Smua với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Cơ quan CSĐT tiến hành rà soát tại khu vực ngã ba Đồi Scũng như khu vực lân cận chưa phát hiện đối tượng nào có biểu hiện mua bán tang trữ chất ma túy theo như mô tả của Bùi Văn Sin. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn sẽ tiến tục xác minh làm rõ, khi nào xác minh được sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chị Nguyễn Thị H là người được Nguyễn Trường G nhờ chuyển khoản số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) cho Sđể mua ma túy, nhưng chị Hoài không biết việc G nhờ chuyển tiền để mua ma túy của bị cáo Snên không có đề nghị xem xét xử lý.

Cáo trạng số: 70/CT-VKSLS ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Bùi Văn Svề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Vũ Thùy L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn Svề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo Vũ Thùy L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, khoản 1, Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Bùi Văn Stừ 15 đến 21 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Từ 24 đến 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: khoản 1, Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vũ Thị L từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2611/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Thu Hiền và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2610/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Đức Trọng và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, CÔNG AN TỈNH HÒA BÌNH, Mẫu vật còn lại sau giám định Vụ: Bùi Văn Sin, sinh năm: 1988 – có hành vi phạm tội về ma túy, Xảy ra: này 05 tháng 04 năm 2024. Tại: xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” mặt sau tại các mép dán có các chữ ký ghi rõ họ tên Đỗ Thành Công, Trần Khánh Toàn và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
  • 01 (một) bật lửa ga; 02 (hai) dao lam; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) túi nilon bên trong có chứa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) khay nhựa bên trong chưa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa nhiều mảnh giấy nhỏ màu trắng; 06 (sáu) mảnh giấy bạc; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • Số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thu lời bất chính của bị cáo Vũ Thị L và 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) tiền thu lời bất chính của bị cáo Sđể xung công quỹ nhà nước.
  • Xác nhận bị cáo Vũ Thuỳ L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000795 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu trắng có gắn BKS: 28L1 – 22.555, bị cáo Vũ Thùy L đã sử dụng xe mô tô trên để đi bán ma túy cho bị cáo Scần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000461 mang tên Vũ Thùy L.
  • 01 (một) điện thoại di động, mặt sau có chữ Sam sung, bị cáo Bùi Văn Sđã dùng để L lạc với Nguyễn Trường Giang và bị cáo Vũ Thùy L để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
  • 01 (một) điện thoại di động, một mặt có chữ “TECO SPARK” máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng của Vũ Thùy L

Trả lại cho bị cáo vật chứng không L quan đến tội phạm

  • Bị cáo Bùi Văn S01 (một) căn cước Công dân mang tên Bùi Văn Sin
  • Bị cáo Vũ Thị L 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản Ngày 03/10/2023 giữa bên giao Công an huyện Lương Sơn, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn).

Đối với số tiền 37.640.000đ (ba mươi bày triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ của Vũ Thùy L. Quá trình điều tra xác định không L quan đến hành vi phạm tội của L Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý vật đồ vật tạm giữ số 633 ngày 29 tháng 8 năm 2024 trao trả lại cho Vũ Thùy L nên không đề nghị xem xét giải quyết

-Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn Sin, Vũ Thùy L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Bùi Văn Sbị bắt về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Vũ Thùy L bị bắt về hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy” Tại cơ quan điều tra và phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập được. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 04 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn ra lệnh giữ người khẩn cấp và khám xét chố ở của Bùi Văn Stại thôn Châu Dể, xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, Hoà Bình. Cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có 01 (một) lọ nhựa có nắp mầu đỏ bên trogn có chứa chất lỏng mầu hồng; 01 (một) mảnh giấy bạc một mặt bám dính chất mầu đen; 02 (hai) dao lam; 01 (một) bật lửa ga; 01 (một) kéo bằng kim loại; 06 (sáu) mảnh giấy bạc; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh; 01 (một) gói giấy được bọc bằng băng dính màu đen, bên trong có 01 (một) gói chứa chất bột mầu trắng.

Bùi Văn Skhai nhận nguồn gốc số ma túy là do Nguyễn Trường Giang gọi điện nhờ Smua ma tuý. Sđồng ý Giang chuyển tiền cho S600.000đồng sau đó Sgọi điện cho Vũ Thị L và chuyển cho L 400.000 đồng. L giao cho S01 gói ma tuý được quấn bên ngoài băng dính màu vàng. Nhận được ma tuý Schia ra làm 2 gói, một gói Scất để sử dụng còn 01 gói Sđưa cho Giang, Giang cùng Sơn cầm gói ma tuý nhờ Smua hộ đến khu vực bãi tha ma thuộc thôn Đồng bon sử dụng thì bị bắt quả tang.

Đến 22 giờ, ngày 04 tháng 05 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét đối với Vũ Thùy L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Ngày 10/04/2024, Phòng PC 09 Công an tỉnh Hòa Bình có kết luận giám định số: 185/KL-KTHS Kết luận: Chất dạng cục màu trắng có kí hiệu G1 trong phong bì 01, một mặt có ghi “thu giữ tại vị trí số 05” gửi giám định có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam), là ma túy, loại Heroine. Chất màu đen bám dính trong mảnh giấy bạc kí hiệu G2 trong phong bì 02, một mặt ghi “thu giữ ở vị trí số 02” gửi giám định là ma túy, loại Heroine, chất màu đen quá ít không xác định được khối lượng.

Như vậy, Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn Sphạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 BLHS và Vũ Thị L phạm tội tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 BLHS như bản cáo trạng truy tố là đúng và có căn cứ đúng pháp luật

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng là trực tiếp xâm phạm đến chính sách của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy và bài trừ tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện.

[4] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:

Đối với bị cáo Bùi Văn S: Bị cáo Bùi Văn Sđã có hành vi cất gói ma túy, loại Heroine trong phòng ngủ có khối lượng 0,11g do Smua của Vũ Thị L với mục đích để sử dụng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Bùi Văn S có hành vi nhận của Giang 600.000 đồng và sau đó giao cho Giang 01 gói ma tuý loại Heroin. Như vậy hành vi của Bùi Văn S đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Đối với bị cáo Vũ Thị L: qua trao đổi bị cáo L đồng ý với bị cáo Svà đã nhận của S400.000đồng và giao cho bị cáo S01 gói Hê rô in. Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Thị L phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo L đã tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tình chất hành vi phạm tội, nhận thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy: hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 38 BLHS, để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của các bị cáo là lao động tự do, công việc không ổ định, không có tài sản do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249, Điều 251 BLHS.

[6] Về vật chứng L quan đến vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần được xử lý như sau:

- Các vật chứng cần tiêu huỷ gồm có :

  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2611/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Thu Hiền và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2610/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Đức Trọng và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, CÔNG AN TỈNH HÒA BÌNH, Mẫu vật còn lại sau giám định Vụ: Bùi Văn Sin, sinh năm: 1988 – có hành vi phạm tội về ma túy, Xảy ra: này 05 tháng 04 năm 2024. Tại: xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” mặt sau tại các mép dán có các chữ ký ghi rõ họ tên Đỗ Thành Công, Trần Khánh Toàn và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
  • 01 (một) bật lửa ga; 02 (hai) dao lam; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) túi nilon bên trong có chứa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) khay nhựa bên trong chưa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa nhiều mảnh giấy nhỏ màu trắng; 06 (sáu) mảnh giấy bạc; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh.

Các vật chứng L quan đến việc phạm tội cần tịch thu xung công quỹ nhà nước gồm có:

  • 01 (một) điện thoại di động, một mặt có chữ “TECO SPARK” máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng củả Vũ Thị L. Bị cáo đã dùng vào việc L hệ bán ma tuý cho bị cáo Sin.
  • 01 (một) điện thoại di động, mặt sau có chữ Sam sung, bị cáo Bùi Văn Sđã dùng để L lạc với Nguyễn Trường Giang và bị cáo Vũ Thùy L để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu trắng có gắn BKS: 28L1 - 22.555, bị cáo Vũ Thùy L đã sử dụng xe mô tô trên để đi bán ma túy cho bị cáo Scần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000461 mang tên Vũ Thùy L.

Đối với số tiền các bị cáo thu lời bất chính cần thu hồi sung công quỹ nhà nước gồm:

  • Số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) do bị cáo Vũ Thuỳ L bán ma tuý cho bị cáo S. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000795 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • Truy thu số tiền 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi Văn Sdo bị cáo Shưởng lời do việc bán ma tuý cho Nguyễn Trường Giang.

- Các vật chứng không L quan đến việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo gồm:

  • Trả lại bị cáo Vũ Thị L 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia,
  • Trả lại bị cáo Bùi Văn S 01 (một) căn cước Công dân mang tên Bùi Văn S

- Đối với số tiền 37.640.000đ (ba mươi bày triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ của Vũ Thùy L. Quá trình điều tra xác định không L quan đến hành vi phạm tội của L Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử lý vật đồ vật tạm giữ số 633 ngày 29 tháng 8 năm 2024 đã trả cho anh Vũ Mạnh Trung là người được bị cáo Vũ Thùy L ủy quyền nên không đề nghị xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn Sin, Vũ Thùy L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Sphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Vũ Thùy L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt : bị cáo Bùi Văn S18 ( mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 24 ( hai bốn ) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tổng hợp hình phạt chung cho cả hại tội bị cáo Bùi Văn Sphải chấp hành 42 ( bốn hai) tháng Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Vũ Thùy L 24 ( hai bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024

2. Về vật chứng vụ án : Áp dụng điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2611/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Thu Hiền và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ 2610/KL-KTHS; kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Mẫu vật còn lại sau giám định”; Mặt sau có chữ “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” và tại các mép dán có các chữ ký ghi họ tên Phạm Đức Trọng và bùi Xuân Trường và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an.
  • 01 (một) phong bì dán kín, mặt trước có chữ “BỘ CÔNG AN, CÔNG AN TỈNH HÒA BÌNH, Mẫu vật còn lại sau giám định Vụ: Bùi Văn Sin, sinh năm: 1988 – có hành vi phạm tội về ma túy, Xảy ra: này 05 tháng 04 năm 2024. Tại: xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” mặt sau tại các mép dán có các chữ ký ghi rõ họ tên Đỗ Thành Công, Trần Khánh Toàn và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
  • 01 (một) bật lửa ga; 02 (hai) dao lam; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) túi nilon bên trong có chứa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) khay nhựa bên trong chưa nhiều mảnh giấy màu trắng; 01 (một) hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa nhiều mảnh giấy nhỏ màu trắng; 06 (sáu) mảnh giấy bạc; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước.

  • Số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) xác nhận bị cáo L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000795 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • Truy thu bị cáo Bùi Văn S số tiền 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng)

Tịch thu phát mại xung công quỹ nhà nước :

  • 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Wave màu trắng có gắn BKS: 28L1 – 22.555, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000461 mang tên Vũ Thùy L.
  • 01 (một) điện thoại di động, mặt sau có chữ Sam sung không kiểm tra chất lương của Bùi Văn S
  • 01 (một) điện thoại di động, một mặt có chữ “TECO SPARK” máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng của Vũ Thùy L.

-Trả lại :

  • bị cáo Bùi Văn S: 01 (một) căn cước Công dân mang tên Bùi Văn S
  • bị cáo L; 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia không kiểm tra chất lượng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản Ngày 03/10/2023 giữa bên giao Công an huyện Lương Sơn, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Các bị cáo Bùi Văn Sin, Vũ Thùy L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/10/2024)

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh HB;
  • - STP tỉnh HB;
  • - VKSND huyện Lương Sơn;
  • - Công an huyện Lương Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan';
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 09/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH về hình sự - tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Sin - Liên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger