Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 71/2024/HSST

Ngày 26/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Lâm; Bà Nguyễn Thị Việt Hà.
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 19/3/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: NGUYỄN XUÂN V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28/9/1990, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công chức Tài chính - Kế toán xã T, huyện T; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Là Đảng viên Đ sinh hoạt tại Chi bộ bản Hua Mỳ, xã T, huyện T, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 32-QĐ/UBKTHU ngày 19/3/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy T1; Con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị T, sinh năm 1992 và 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu từ ngày 03/11/2023 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Đại diện theo pháp luật, ông Lò Văn C - Chủ tịch (có mặt).

Người làm chứng: anh Tòng Văn C1 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Xuân V1 được UBND huyện T1, tỉnh Lai Châu tuyển dụng làm Công chức Tài chính – Kế toán cấp xã thuộc huyện T từ ngày 01/12/2014. Đến ngày 01/3/2022, Nguyễn Xuân V1 được điều động đến nhận nhiệm vụ Công chức Tài chính – Kế toán tại xã T, huyện T. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, hàng tháng, Nguyễn Xuân V1 có tham mưu việc chi trả phụ cấp không chuyên trách Đảng, Đoàn thể cho các cá nhân được hưởng phụ cấp từ các nguồn ngân sách của xã T, huyện T. Về quy trình: Vũ lập danh sách các cá nhân được chi trả phụ cấp, số tài khoản và mức hưởng của từng người, trình lãnh đạo ký duyệt để làm thủ tục rút dự toán ngân sách Nhà nước của xã T từ Kho bạc Nhà nước huyện T sang tài khoản của UBND xã T mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) - Chi nhánh L. Sau đó, V1 chuyển 01 danh sách chi trả cho cán bộ tại Ngân hàng để thực hiện việc chi trả phụ cấp về tài khoản của từng cá nhân. Quá trình thực hiện nhiệm vụ này, Nguyễn Xuân V1 đã nhiều lần cố ý lập sai danh sách và số tiền thanh toán cho các cá nhân để chiếm đoạt tiền từ ngân sách của xã T, cụ thể như sau:

Tháng 5 năm 2022, Nguyễn Xuân V1 lập danh sách chuyển khoản chi trả cá nhân phụ cấp không chuyên trách Đảng, Đoàn thể của xã T tháng 5/2022 cho 34 cá nhân với tổng số tiền là 42.956.700 đồng. Trong danh sách này có anh Tòng Văn C1 (sinh năm 1982 trú tại bản Củng, xã T, huyện T) là cán bộ phụ trách Đài truyền thanh – Quản lý nhà văn hóa xã T, được trả tiền phụ cấp hàng tháng là 1.370.800 đồng (tính theo đúng mức quy định tại Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh L). Tuy nhiên, khi lập chứng từ để rút dự toán ngân sách, Nguyễn Xuân V1 đã tự ý nâng mức phụ cấp của anh Tòng Văn C1 được hưởng lên 11.204.800 đồng (chênh lệch 9.834.000 đồng). Sau đó, Nguyễn Xuân V1 trình Chủ tịch UBND xã T là ông Lò Văn C ký duyệt. Sau khi ông C ký duyệt, Nguyễn Xuân V1 làm giấy rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước huyện T tổng số tiền 42.956.700 đồng. Khi lập danh sách cá nhân được chi trả phụ cấp này để chuyển cho bên Ngân hàng, Nguyễn Xuân V1 đã thay đổi nội dung danh sách như sau: tổng số người được hưởng gồm 35 người, trong đó: anh Tòng Văn C1 được hưởng số tiền 1.370.800 đồng (đúng theo quy định), Nguyễn Xuân V1 được hưởng số tiền 9.834.000 đồng mặc dù V1 không thuộc đối tượng được hưởng phụ cấp này. Nguyễn Xuân V1 chuyển danh sách lập khống cho cán bộ Ngân hàng V2 để thực hiện việc chuyển tiền về tài khoản các cá nhân. Ngày 26/5/2022, số tiền 9.834.000 đồng được chuyển vào số tài khoản 109333519999 của Nguyễn Xuân V1 mở tại Ngân hàng V2, V1 đã chi tiêu hết.

Tháng 6 năm 2022, Nguyễn Xuân V1 lập danh sách chuyển khoản chi trả cá nhân phụ cấp không chuyên trách Đảng, Đoàn thể tháng 6/2022 của xã T cho 34 cá nhân thuộc diện được hưởng phụ cấp. Để tham ô tài sản, Nguyễn Xuân V1 đã tự ý nâng mức được hưởng của anh Tòng Văn C1 trong danh sách từ 1.370.800 đồng lên 11.204.800 đồng (chênh lệch 9.834.000 đồng so với mức được hưởng theo đúng quy định). Sau đó, Vũ trình Chủ tịch UBND xã ký duyệt và chuyển chứng từ đến Kho bạc và Ngân hàng. Ngày 06/6/2022, số tiền 11.204.800 đồng được chuyển vào tài khoản của anh Tòng Văn C1. Lúc này, Nguyễn Xuân V1 gọi điện cho anh Tòng Văn C1 nói là đã chuyển nhầm tiền phụ cấp không chuyên trách vào tài khoản của anh C1 và yêu cầu anh C1 nộp lại cho V1 để trả lại ngân sách. Ngày 07/6/2022, anh Tòng Văn C1 rút tiền từ tài khoản và đưa số tiền là 9.834.000 đồng cho Nguyễn Xuân V1. Sau đó, V1 không nộp tiền vào ngân sách mà chiếm đoạt cho bản thân và đã chi tiêu hết.

Bằng thủ đoạn tương tự như đã thực hiện trong tháng 6/2022, vào tháng 8 năm 2022, khi Nguyễn Xuân V1 lập danh sách chi trả phụ cấp không chuyên trách cho các cá nhân đã nâng mức hưởng phụ cấp của anh Tòng Văn C1 lên 9.714.800 đồng (chênh lệch 8.344.000 đồng so với mức hưởng theo đúng quy định). Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản của Tòng Văn C1 (ngày 12/8/2022), V1 nói với anh C1 là chi nhầm tiền phụ cấp và yêu cầu anh C1 chuyển lại số tiền 8.344.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Xuân V1 mở tại Ngân hàng V2. Sau khi anh C1 chuyển số tiền trên cho V1, V1 đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết. Tháng 02 năm 2023, Nguyễn Xuân V1 đã tự ý nâng mức hưởng phụ cấp không chuyên trách của anh Tòng Văn C1 trong danh sách chi trả lên 9.565.800 đồng (chênh lệch 8.195.000 đồng so với quy định). Sau khi tiền được chuyển vào các tài khoản của cá nhân (ngày 14/02/2023), V1 yêu cầu anh C1 chuyển lại số tiền 8.195.000 đồng cho V1 với lý do bị nhầm lẫn. Anh Tòng Văn C1 đã rút và đưa số tiền trên cho V1 tại phòng làm việc. Sau đó, V1 đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết.

Tháng 8 năm 2023, Nguyễn Xuân V1 lập “Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng phụ cấp không chuyên trách khối Đảng, Đoàn thể, QLNN tháng 08/2023” đã nâng mức hưởng phụ cấp của anh Tòng Văn C1 lên 9.936.000 đồng (so mới mức được hưởng theo quy định là 1.656.000 đồng, đã áp dụng theo mức tăng lượng cơ sở từ tháng 7/2023, mức chênh lệch là 8.280.000 đồng). Sau khi tiền được chuyển đến tài khoản của anh Tòng Văn C1, V1 đã gọi điện cho anh C1 để yêu cầu anh C1 chuyển lại số tiền chi nhầm. Ngày 11/8/2023, anh Tòng Văn C1 đã chuyển số tiền 8.280.000 đồng vào tài khoản của V1 mở tại Ngân hàng V2. Sau đó, anh Tòng Văn C1 báo cáo việc đã nộp lại tiền cho Chủ tịch UBND xã T ông Lò Văn C biết. Ông Lò Văn C đã yêu cầu V1 nêu rõ lý do thì V1 giải trình là do làm nhầm chứng từ. Ông C yêu cầu V1 nộp lại tiền vào ngân sách. Ngày 16/8/2023, Nguyễn Xuân V1 đã nộp số tiền 8.420.000 đồng vào tài khoản của UBND xã T mở tại Ngân hàng V2 (do nhầm lẫn nên V1 đã nộp nhiều hơn số tiền chiếm đoạt 140.000 đồng).

Ngày 17/10/2023, Công an huyện T nhận được đơn tố cáo (giấu tên người gửi) đối với Nguyễn Xuân V1. Quá trình xác minh nội dung tố cáo và khám xét nơi làm việc của Nguyễn Xuân V1 tại UBND xã T, Cơ quan điều tra đã thu giữ 05 bộ chứng từ thanh toán chi trả cá nhân phụ cấp không chuyên trách Đảng, Đoàn thể của UBND xã T các tháng 5, 6, 8 năm 2022 và tháng 02, 8 năm 2023.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp lại số tiền là 44.627.000 đồng (trong đó: nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên là 28.012.000 đồng, nộp trả vào tài khoản của UBND xã T là 16.615.000 đồng)

Về vật chứng: 05 bộ chứng từ chi trả cá nhân phụ cấp không chuyên trách Đảng, đoàn thể của các tháng 5/2022, tháng 6/2022, tháng 8/2022; tháng 02/2023, tháng 8/2023 (đã được lưu vào hồ sơ vụ án); 01 hộp bìa cat tông niêm phong tài liệu ban đầu, đang được bảo quản theo quy định

Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 17/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Nguyễn Xuân V1 phạm tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, lời khai đại diện bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm các lần bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân V1 phạm tội “Tham ô tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 353, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 41/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Nguyễn Xuân V1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ Kế toán trong các cơ quan hành chính Nhà nước trong khoảng thời gian từ 01 đến 02 năm từ thời điểm bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 01 hộp bìa cat tông niêm phong tài liệu ban đầu để tiêu hủy.

Về Trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 44.487.000 đồng, trong đó bị cáo đã bồi thường các lần như sau: nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên là 28.012.000 đồng, nộp trả vào tài khoản của UBND xã T là 16.615.000 đồng. Số tiền bị cáo nộp thừa tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên là 140.000 đồng đề nghị trả lại cho bị cáo.

Đại diện bị hại ông Lò Văn C - Chủ tịch UBND xã T trình bày: Bị cáo Nguyễn Xuân V1 đã có hành vi làm sai lệch, tăng số tiền phụ cấp lên cao hơn so với quy định để chiếm đoạt số tiền này. Tuy nhiên vụ việc đã được phát hiện, xử lý sớm. Bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại đồng thời khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đại diện cho UBND xã, đại diện cho cấp ủy, chính quyền xã cùng các đồng chí cán bộ, công chức xã kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể. Về trách nhiệm dân sự: Khoản tiền bị cáo chiếm đoạt, bị cáo đã chủ động bồi thường vào tài khoản UBND xã là 16.615.000 đồng, số còn lại 27.872.000 đồng là khoản ngân sách chi thường xuyên của UBND năm 2023, nhưng UBND xã đã chủ động thu xếp xong khoản tiền này, nên không đề nghị được trả lại, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Nguyễn Xuân V1 là công chức Tài chính - Kế toán xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, có trách nhiệm tham mưu việc quản lý, tổ chức sử dụng ngân sách Nhà nước cấp cho UBND xã T, huyện T. Trong các tháng 5, 6, 8 năm 2022 và các tháng 2, 8 năm 2023, Nguyễn Xuân V1 đã 05 lần lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, cố ý lập khống chứng từ chi trả tiền phụ cấp không chuyên trách cho cá nhân để chiếm đoạt tổng số tiền 44.487.000 đồng từ nguồn ngân sách cấp cho xã T, huyện T. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo Nguyễn Xuân V1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách quản lý kinh tế của của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tham ô tài sản là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Tài sản Nhà nước là khách thể được pháp luật bảo vệ, vì vậy mọi hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của Nhà nước cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Nguyễn Xuân V1 thực hiện hành vi tham ô tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt tiền để chi tiêu cá nhân.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Xuân V1 được sinh ra trong một gia đình cán bộ, công chức Nhà nước, mặc dù có tuổi đời còn trẻ, lại là cán bộ Nhà nước và là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, song chỉ vì tư lợi cá nhân muốn có tiền tiêu sài bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Vì vậy cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về những lần chiếm đoạt tài sản, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình. Khi vụ việc được phát hiện bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bằng cách tự nguyện nộp hết tổng số tiền đã chiếm đoạt vào tài khoản của UBND xã và tại Chi cục Thi hành án dấn sự huyện T. Đại diện UBND xã T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình công tác, bị cáo có nhiều thành tích, các năm 2019, 2020, 2021 là công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ba năm liền được Chủ tịch UBND huyện T1, Chủ tịch UBND xã P và Chủ tịch UBND xã T tặng Giấy khen. Cha đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Xuân H, nguyên cán bộ Kho bạc Nhà nước được Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh tặng Bằng khen, được UBND tỉnh L tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Lai Châu, được Bộ trưởng Bộ T2 tặng bằng khen. Mẹ đẻ của bị cáo có nhiều cống hiên xuất sắc cho ngành giáo dục, được Bộ trưởng Bộ G tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. Ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự. Để thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội biết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, HĐXX cần áp dụng khoản 1 Điều 54/Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo cũng đã đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Trước khi bị bắt, bị cáo là Công chức Tài chính - Kế toán cấp xã, để kịp thời ngăn chặn hành vi xâm phạm tài sản Nhà nước khác, cần áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 353/Bộ luật hình sự để cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ Kế toán trong một thời gian phù hợp. Kết qủa điều tra xá định, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và tịch thu tài sản đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 44.487.000 đồng, trong đó bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên là 28.012.000 đồng, nộp trả vào tài khoản của UBND xã T là 16.615.000 đồng. Như vậy số tiền bị cáo nộp thừa tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên là 140.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được nhận lại, nên cần trả lại cho bị cáo. Số tiền còn lại 27.872.000 (đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên) là tài sản hợp pháp của UBND xã T. Tuy nhiên tại phiên tòa, đại diện UBND xã không đề nghị được trả lại. Xét thấy đây là khoản tiền bị cáo có được do phạm tội cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

[7]. Về vật chứng: Đối với các chứng từ, bảng kê thanh toán... là các tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 hộp bìa cat tông niêm phong tài liệu ban đầu, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với anh Tòng Văn C1 có 04 lần được Nguyễn Xuân V1 lập danh sách chi trả tiền phụ cấp cao hơn so với mức được hưởng theo quy định. Quá trình điều tra xác định anh Tòng Văn C1 không biết việc Nguyễn Xuân V1 tham ô tài sản, tất cả các lần bị cáo Vũ lập sai chứng từ thanh toán, anh Tòng Văn C1 đã chuyển lại toàn bộ số tiền chênh lệch cho Nguyễn Xuân V1. Anh C1 chỉ nhận đúng số tiền mà mình được hưởng theo quy định. Do vậy, anh Tòng Văn C1 không phạm tội, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với Tòng Văn C1 là đúng quy định.

Đối với ông Lò Văn C - Chủ tịch UBND xã T, huyện T, có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp cho UBND xã T. Trong quá trình ký duyệt các chứng từ chi ngân sách đã không kiểm tra chặt chẽ, dẫn đến không kịp thời phát hiện hành vi lập khống chứng từ của Nguyễn Xuân V1. Quá trình điều tra xác định ông Lò Văn C không biết việc Nguyễn Xuân V1 lập khống chứng từ để tham ô tài sản. Hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại về tài sản là 44.487.000 đồng của ông Lò Văn C không cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 360/Bộ luật Hình sự.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[11]. Về kiến nghị, phòng ngừa vi phạm: Qua xét xử sơ thẩm vụ án này, nhận thấy Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, với tư cách là Chủ tài khoản của một đơn vị hành chính cấp xã, chưa thực sự sát sao trong việc quản lý tài chính và hoạt động công vụ của cán bộ Tài chính - Kế toán, gây thất thoát cho ngân sách. Để hạn chế tình trạng xâm phạm ngân sách, Hội đồng xét xử kiến nghị các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện, UBND các xã thị trấn, đặc biệt là các Chủ tài khoản thuộc nguồn ngân sách Nhà nước cần nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên làm công tác tài chính để hoạt động chi, tiêu tài chính trên địa bàn được thực hiện đảm bảo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 353, Điều 38, Điều 41, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân V1 phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào các cơ sở giam, giữ để chấp hành hình phạt tù.

    Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ Kế toán trong các cơ quan hành chính Nhà nước trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Miễn các hình phạt bổ sung còn lại tại khoản 5 Điều 353/Bộ luật hình sự cho bị cáo.

  3. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tịch thu 01 hộp bìa cat tông niêm phong tài liệu ban đầu để tiêu hủy. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 27.872.000 (hai mươi bảy triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn) đồng. Trả lại cho bị cáo 140.000 (một trăm bốn mươi nghìn) đồng.

    Vật chứng, đồ vật, tài sản nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân V1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tô tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân V tham ô 44,4 Triệu đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho UBND xã
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger