Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HSST

Ngày: 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Phạm Quý Dương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Long - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên: Bà Lê Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 06/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh ngày: 12/6/2004; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Minh T1, sinh năm 1979; Con bà: Vũ Thị T2, sinh năm 1981; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2024. Hiện đang giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K.

(Theo lệnh trích xuất của Tòa án - Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

  • - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên;
  • - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • - Anh Chu Thanh T4, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • - Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • - Bà Nguyễn Thị Trung H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên tòa: Bà T2 có mặt. Bà N, ông T3, anh T4, chị P và bà H đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Minh T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà bà Nguyễn Thị N (bác ruột của T) ở cùng thôn. Khoảng 14 giờ ngày 22/4/2024, Tân mượn 01 chiếc máy cắt kim loại cầm tay màu xanh-xám nhãn hiệu BOSH GWS 6-100 của anh Chu Thanh T4 ở thôn E, xã T rồi đi bộ đến nhà bà N. Quan sát thấy cổng khóa, bên trong không có ai ở nhà nên T cầm chiếc máy cắt trèo lên tường đi vào trong vườn rồi đi theo lối đi của phòng tắm vào phòng ngủ của nhà bà N. Lúc này, T quan sát thấy chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Mỹ, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45, có kích thước lần lượt (50x46x80)cm đặt sát phía bên trái cánh cửa, mặt két hướng ra ngoài. Tân tiến đến dùng hai tay kéo chiếc két sắt để lộ ra phía cạnh bên trái, dùng chiếc máy cắt đem theo cắt phần mặt bên trái của chiếc két sắt theo hình chữ nhật, cắt được khoảng 15 phút thì xong. T dùng tay phải luồn vào bên trong két sắt thấy có 01 chiếc túi mở ra thấy có 01 dây chuyền vàng 9999 (05 chỉ vàng) dạng mắt xích và 01 hộp bằng nhựa, hình tròn, màu hồng mở ra thấy bên trong có 04 nhẫn vàng 9999, loại nhẫn trơn (mỗi nhẫn là 05 chỉ vàng). T cầm toàn bộ tài sản cho vào túi quần đang mặc và cầm theo chiếc máy cắt rồi đi ra theo lối đã vào trước đó. T vứt một mảnh tôn của két sắt tại vườn của gia đình ông Đào Công K trước cổng nhà bà N và đi bộ ra đường chính. Tiếp đó, T đi nhờ xe của người dân đi đường (không biết tên, địa chỉ) đến cửa hàng mua bán vàng bạc “Định Hiếu” ở thôn C, xã T, huyện K để bán số vàng đã trộm cắp được. Tại đây, T gặp chị Nguyễn Thị Trung H (chủ cửa hàng) và anh Nguyễn Quang H1 (con trai chị H và là bạn học cấp 1 với T). Khi giao dịch bán vàng chị H không biết là tài sản do T trộm cắp mà có. T lấy chiếc 01 chiếc nhẫn vàng trơn, loại 5 chỉ, mặt trong chiếc nhẫn có in dòng chữ “Thủy N1” để bán cho chị H. Chị H kiểm tra chiếc nhẫn vàng mà T muốn bán, báo

giá mua vào là 7.100.000đ/01 chỉ, T đồng ý bán. Chị H thanh toán cho T số tiền là 35.430.000đ, T cầm tiền trên rồi đi về nhà lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xanh - đen, không gắn biển số của chị Vũ Thị T2 (là mẹ đẻ của T) đi đến cửa hàng “Mạnh Kiên M” ở thôn C, xã T, huyện K gặp chủ cửa hàng là chị Nguyễn Thị P mua 01 chiếc điện thoại Iphone 13 với giá 10.000.000đ để sử dụng rồi đi lên khu vực quận H, thành phố Hà Nội chơi. Cứ tiêu hết tiền T lại mang số vàng trộm cắp được đi bán tại nhiều cửa hàng vàng bạc trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau đó, T đã bán chiếc điện thoại ở cửa hàng mua bán điện thoại tại thành phố Hà Nội (không nhớ tên, địa chỉ). Toàn bộ số tiền bán vàng và bán điện thoại T tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 07/5/2024 T đi từ thành phố Hà Nội đi về quán game “MONO” ở thôn E, xã T để tiếp tục đi trộm cắp tài sản. Tại đây, T gặp bạn là Bùi Nam K1 ở thôn N, xã P, huyện K. T rủ K1 đi tìm nhà nào có tài sản để sơ hở thì cùng nhau trộm cắp, K1 đồng ý. K1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa Vision màu trắng, không gắn biển số chở T đi lòng vòng trong thôn T, xã C, trên đường đi T nói với K1 “Đi lấy trộm vàng ở nhà bà N1, bác của T” bán lấy tiền chia nhau. (T không nói cho K1 biết việc T đã lấy trộm vàng của nhà bà N1 vào ngày 22/4/2024). T với K1 thống nhất đợi cho bà N1 đi khỏi nhà thì T, K1 sẽ vào gặp ông Nguyễn Văn T3 (chồng bà N1) để hỏi mua gà về thịt, sau đó T xin đi vệ sinh và vào trong phòng ngủ lấy vàng trong két sắt còn K1 ở bên ngoài nhà sẽ ngồi nói chuyện với ông T3 để kéo dài thời gian, đánh lạc hướng. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, K1 chở T đứng đợi ở ngõ gần vào nhà bà N1, đợi khoảng 05 phút, thấy bà N1 đi ra ngõ thì T bảo K1 đi vào nhà bà N1 để trộm cắp vàng theo kế hoạch đã bàn. Đến nơi, T và K1 để xe ở sân rồi cùng đi vào trong nhà, ông T3 đang ngồi xem tivi ở phòng khách nên T và K1 nói chuyện với ông T3. Khoảng 05 phút thì T nói xin đi vào nhà vệ sinh rồi đi vào gian buồng ngủ cạnh đó. Tại đây, thấy chiếc két sắt vẫn dựng ở góc tường, T luồn tay qua lỗ thủng của két sắt đã đục phá từ ngày 22/4/2024 để tìm tài sản bên trong nhưng không tìm được gì. Lúc này, T nghe thấy tiếng ông T3 gọi to “T ơi, mày ngủ trong nhà vệ sinh nhà tao à?” nên hoảng sợ đi ra, rồi T cùng K1 lấy lý do đợi bà N1 lâu quá nên bỏ đi về.

Đến ngày 11/5/2024, bà Nguyễn Thị N phát hiện bị trộm cắp vàng trong két sắt nên đã có đơn trình báo giải quyết sự việc theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 chiếc két sắt và 01 hộp nhựa màu hồng. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát truy tìm vật chứng thu giữ một miếng tôn sắt màu xanh, kích thước (17x10)cm tại vườn của gia đình ông Đào Công K ở trước cổng nhà bà N nhập kho vật chứng theo quy định; trích xuất 02 File video camera an ninh của gia đình chị Lê Thị H2 ở thôn T, xã C, huyện K ghi lại nội dung sự việc.

Ngày 11/5/2024, Nguyễn Minh T đã đến Công an huyện K để đầu thú và khai nhận phạm tội của mình.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh T tại thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Kết quả không thu giữ đồ vật tài liệu, tài liệu. Đồng thời, anh Chu Thanh T4 ở thôn E, xã T đã tự nguyện giao nộp Cơ quan điều tra 01 chiếc máy cắt kim loại cầm tay màu xanh - xám nhãn hiệu BOSH GWS 6-100.

Ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện K đối với tài sản của bà N bị mất. Tại bản kết luận định giá tài sản số 16 ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện K, kết luận:

  • - Giá trị của 04 chiếc nhẫn vàng ta, tròn trơn 9999, loại 05 chỉ/01 nhẫn. Tổng số 20 chỉ (02 cây vàng) có đặc điểm tương đồng nhau, bên trong mỗi chiếc nhẫn đều có khắc chữ “Thủy N1” tại thời điểm ngày 22/4/2024 là 148.000.000đ.
  • - Giá trị của 01 dây chuyền vàng ta 9999, dạng mắt xích nhỏ tại thời điểm ngày 22/4/2024 là 37.000.000đ.
  • - Giá trị của 01 chiếc két sắt nhãn hiệu “Viet My”, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45, có kích thước lần lượt (50x46x80)cm (đã bị hư hỏng hoàn toàn) tại thời điểm ngày 22/4/2024 là 233.000đ.

Ngày 21/5/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định nội dung hình ảnh trong 02 File video thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 151 ngày 04/7/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 File video trong mẫu niêm phong, ký hiệu A1 gửi giám định.

Về vật chứng:

  • - Đối với 05 chỉ vàng Tân bán tại cửa hàng vàng bạc “Định Hiếu”, cửa hàng đã nấu để chế tác thành phẩm. Đối với 02 cây vàng mà Tân bán tại các cửa hàng vàng bạc ở thành phố Hà Nội, nhưng không nhớ tên, địa chỉ của cửa hàng. Toàn bộ số tiền do bán vàng T đã tiêu xài hết. Do đó, không có căn cứ để xác minh, truy tìm và thu giữ đối với số vàng nêu trên.
  • - Đối với chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Mỹ, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45, có kích thước lần lượt (50x46x80)cm, phần cạnh sườn bên trái của két sắt bị thủng, tình trạng két sắt bị hư hỏng hoàn toàn; hộp nhựa màu hồng và một mảnh tôn sắt màu xanh Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.
  • - Đối với chiếc máy cắt màu xanh - xám nhãn hiệu BOSH GWS 6-100 là tài sản của anh Chu Thanh T4, anh T4 không biết việc T sử dụng để thực hiện việc phạm tội. Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra trả lại chiếc máy cắt cho anh Chu Thanh T4.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa AirBlade màu xanh - đen, không gắn biển số là xe của chị Vũ Thị T2 (mẹ của T) mua trả góp ở cửa hàng mua bán xe máy H ở xã D, huyện K vào ngày 13/01/2024, xe chưa được thanh toán hết tiền với ngân hàng. Tại thời điểm T sử dụng xe chưa đăng ký biển số, ngày 22/4/2024 chị T2 không biết T lấy xe sử dụng đi đâu làm gì nên không có căn cứ thu giữ đối với chiếc xe này.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Minh T đã bồi thường số tiền 185.000.000đ cho bà Nguyễn Thị N. Bà N đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường trách nhiệm dân sự.

Cáo trạng số: 78/CT-VKSKC ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị T2: Giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy trong quá trình điều tra.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 125, Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. xử phạt Nguyễn Minh T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Hủy bỏ biện pháp tạm giam và trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác. Giao bị cáo cho UBND xã nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu, đề nghị bồi thường thêm nên không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Mỹ, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45; hộp nhựa màu hồng và một mảnh tôn sắt màu xanh. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
  • - Bị cáo và người liên quan không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, vắng mặt người bị hại là bà N và ông T3; Cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T4, chị P và bà H. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhân tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, được chứng minh bằng các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/4/2024, tại gia đình bà Nguyễn Thị N ở thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Minh T đã có hành vi dùng máy cắt kim loại cầm tay cắt phá két sắt gây thiệt hại 233.000đ để trộm cắp 04 chiếc nhẫn vàng 9999, loại 05 chỉ/01 nhẫn (02 cây) trị giá 148.000.000đ và 01 dây chuyền vàng 9999, trị giá 37.000.000đ của bà Nguyễn Thị N. Tổng trị giá tài sản T đã trộm cắp là 185.000.000đ. Hành vi nêu trên của Nguyễn Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số: 78/CT-VKSKC ngày 05/8/2024 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử nghiêm minh và quyết định mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

- Đối với hành vi làm hư hỏng chiếc két sắt của bà N, giá trị thiệt hại là 233.000đ, do T chưa có tiền án, tiền sự về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Do đó, hành vi của Nguyễn Minh T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Huỷ hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Ngày 03/6/2024, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi này là đúng quy định.

- Ngày 07/5/2024, Nguyễn Minh T và Bùi Nam K1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà bà N nhưng không lấy được tài sản gì do vậy, hành vi này của T và K1 không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Bùi Nam K1 không biết việc trước đó vào ngày 22/4/2024, Nguyễn Minh T đã trộm cắp tài sản nhà bà Nguyễn Thị N nên không có căn cứ để xử lý về hành vi không tố giác tội phạm.

- Đối với anh Chu Thanh T4 không biết việc Nguyễn Minh T mượn chiếc máy cắt của mình để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với chị Nguyễn Thị Trung H khi giao dịch mua 01 chiếc nhẫn vàng trơn với giá là 35.430.000đ và chị Nguyễn Thị P bán cho T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 với giá 10.000.000đ nhưng cả hai đều không biết đó là tài sản do T trộm cắp được nên không xử lý.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo ra đầu thú; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ông nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; Gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định phân tích nêu trên HĐXX thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo chưa lần nào bị xử lý hành chính hay bị kết án, tuổi đời bị cáo còn rất trẻ, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 2 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo nhất thời phạm tội và với người thân trong gia đình. Do đó để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung trong toàn xã hội. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 05 chỉ vàng bị cáo bán tại cửa hàng vàng bạc “Đ”, cửa hàng đã nấu để chế tác thành phẩm. Đối với số vàng còn lại mà T đã bán tại các cửa hàng vàng bạc ở thành phố Hà Nội, nhưng không nhớ tên, địa chỉ của cửa hàng. Toàn bộ số tiền do bán vàng T đã tiêu xài hết nên không có căn cứ để xác minh, truy tìm và thu giữ đối với số vàng nêu trên.
  • - Đối với chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Mỹ, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45, có kích thước lần lượt (50x46x80)cm, phần cạnh sườn bên trái của két sắt bị thủng, tình trạng két sắt bị hư hỏng hoàn toàn; hộp nhựa màu hồng và một mảnh tôn sắt màu xanh. Xét thấy không còn giá trị, không xử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy.
  • - Đối với chiếc máy cắt màu xanh - xám nhãn hiệu BOSH GWS 6-100 là tài sản của anh Chu Thanh T4, anh T4 không biết việc bị cáo T sử dụng để thực hiện việc phạm tội. Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra trả lại chiếc máy cắt cho anh Chu Thanh T4 nên không xem xét.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa AirBlade, màu xanh-đen, không gắn biển số là xe của bà Vũ Thị T2 (mẹ của T). Ngày 22/4/2024 bà T2 không biết T lấy xe sử dụng đi đâu làm gì nên không có căn cứ thu giữ đối với chiếc xe này.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 185.000.000đ cho bà Nguyễn Thị N. Bà N đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Điều 125, điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hủy bỏ biện pháp tạm giam và trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho UBND xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp Nguyễn Minh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự năm 2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu và tiêu hủy chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Mỹ, loại FURNITURE-SAFE, Size KA45, có kích thước lần lượt (50x46x80)cm, phần cạnh sườn bên trái của két sắt bị thủng, tình trạng két sắt bị hư hỏng hoàn toàn; hộp nhựa màu hồng và một mảnh tôn sắt màu xanh.

(Tình trạng, đặc điểm, chủng loại vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số: 60/QĐ-VKSKC, ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh HY.
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - CA huyện Khoái Châu.
  • - VKS huyện Khoái Châu.
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu.
  • - UBND xã Chí Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Trung

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA hình sự Nguyễn Minh T tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger