Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 71/2024/HSST.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Thái.
  2. Ông Lê Xuân Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.

Ngày 23 và ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 58/2024/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1955; Con bà Vũ Thị L, sinh năm 1955; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  2. Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1990 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Thanh B (đã chết); Con bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ Phạm Thị D, sinh năm 1995; Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024; Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06/8/2024 (có mặt).
  3. Trần Mạnh H, sinh năm 1978 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã V, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trần Văn H1, sinh năm 1949; Con bà Hoàng Thị U, sinh năm 1951; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là nhất; Vợ Trần Thị N1, sinh năm 1981; Có 2 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt).
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Vũ Đình Q, sinh năm 1956; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1984; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Hà Đức H2, sinh năm 1973; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Hà Văn P, sinh năm 1984; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1980; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Văn H5, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1978; Trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Văn V, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Đức A, sinh năm 1999; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Mạnh C1, sinh năm 1983; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
    • - Anh Trần Xuân T5, sinh năm 1980; Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có thêm thu nhập, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thanh T1 đã cùng nhau thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho người khác. Hình thức chơi lô đề là hành vi đánh bạc dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày. T, T1 và các đối tượng tự quy định cách chơi như sau:

- Số đề: Người chơi chọn một số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và bỏ ra một số tiền để đặt cược sau đó so sánh với hai số hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt ngày hôm đó. Nếu kết quả xổ số trong ngày có hai số hàng chục và hàng đơn vị trong giải đặc biệt trùng với số người chơi chọn thì được gọi là “trúng đề”, khi đó T, T1 sẽ phải trả cho người chơi số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã bỏ ra, ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã đặt cược.

- Số lô: Người chơi cũng chọn một số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 để đặt cược theo điểm, mỗi điểm lô T, T1 đều bán với giá 22.500 đồng/1 điểm. Khi có kết quả, người mua so sánh các số lô đã mua với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu số mà người chơi mua trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của bất kỳ giải nào trong 27 giải nêu trên thì được gọi là “trúng lô", khi đó T, T1 đều phải trả cho người chơi số tiền tương ứng 1 điểm lô là 80.000 đồng, nếu trùng bao nhiêu giải thì lại nhân tiếp số tiền với bấy nhiêu lần, ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã bỏ ra để mua các điểm lô của số lô đó.

- Số lô xiên: Người chơi cũng chọn các bộ dãy số, mỗi số gồm có hai chữ số nếu chọn cặp hai số (là lô xiên 2), cặp ba số (là lô xiên 3), cặp bốn số (là xiên 4). Sau đó so sánh các dãy số đã chọn với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu tất cả các số trong bộ dãy số người chơi đã chọn trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của một trong 27 giải kết quả xổ số gọi là “trúng lô xiên”, khi đó T, T1 đều phải trả cho người chơi theo tỷ lệ lô xiên 2 là 1.000 đồng ăn 10.000 đồng, lô xiên 3 là 1.000 đồng ăn 40.000 đồng, lô xiên 4 là 1.000 đồng ăn 130.000 đồng.

- Số ba càng: Người chơi chọn 1 số có ba chữ số từ 000 đến 999 và bỏ ra một số tiền để đặt cược sau đó so sánh với ba số cuối cùng của giải đặc biệt ngày hôm đó. Nếu số người chơi đã chọn trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì là “trúng 3 càng", khi đó T, T1 đều phải trả cho người chơi theo tỷ lệ 1.000 đồng ăn 400.000 đồng, ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã đặt cược.

Hàng ngày T1 bán số lô, số đề cho khách chơi sau đó tổng hợp lại rồi chuyển cho T. Khoảng 18 giờ ngày 24/02/2024, T1 đến nhà Trường để chuyển bảng tổng hợp bán số lô, số đề cho T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  1. Thu giữ trên mặt bàn trong bếp nhà Nguyễn Văn T: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S màu đen; 01 máy tính nhãn hiệu CASIO fx-500MS; 01 bút bi có vỏ màu trắng đỏ và 01 tờ giấy A4 là bảng tổng hợp số lô đề T1 vừa chuyển cho T; Thu giữ của Nguyễn Văn T3 01 tờ cáp; Vũ Văn T4 02 tờ cáp.
  2. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T1 thu giữ: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A16; 01 máy tính nhãn hiệu Casio LC-403TV; 01 tập cáp trắng kẹp giấy than; 02 bút bi mực xanh, đen; Số tiền 28.890.000 đồng; 19 tờ cáp đề đều ghi ngày 24/02/2024, trên tờ cáp đều có chữ số và chữ ký.
  3. Quá trình điều tra, ngày 26/6/2024 Trần Xuân T5 là người ghi lô, đề với T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Samsung; Vũ Văn Đ là người ghi lô, đề với T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Xiaomi Redmi N.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã xác định được việc bán lô, đề của T1, T và các đối tượng mua như sau:

1. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1:

Tờ giấy A4 thu giữ tại nhà Trường là bảng tổng hợp số lô đề T1 đã bán cho các đối tượng trong Ngày 24/2/2024 và số lô đề T1 tự đánh thêm. Tổng số tiền tương ứng trong bảng số lô đề T1 chuyển cho T là 27.767.500 đồng, trong đó có 6 đối tượng mua số lô đề của T1 với tổng số tiền các đối tượng mua như sau: Vũ Đình Q là 190.000 đồng; Nguyễn Văn Q1 là 192.500 đồng; Hà Đức H2 là 100.000 đồng; Hà Văn P là 40.000 đồng; Nguyễn Văn T3 là 2.300.000 đồng; Vũ Văn T4 là 3.775.000 đồng. Trong ngày 24/2/2024 T1 còn bán số lô đề cho một số người khác nhưng T1 không nhớ, không biết những người này.

- Trong các ngày 25/02/2023; 28/02/2023; 03/3/2023; 07/3/2023; 08/3/2023; 09/3/2023; 21/3/2023; 22/3/2023 ; 06/6/2023 ; 22/6/2023 ; 23/6/2023 ; 24/6/2023; 26/6/2023 và 28/6/2023, T1 bán số lô đề cho Nguyễn Văn H3 với số tiền lần lượt là: 437.500 đồng, 385.000 đồng, 285.000 đồng, 285.000 đồng, 150.000 đồng, 212.500 đồng, 120.000 đồng, 385.000 đồng, 200.000 đồng, 285.000 đồng, 240.000 đồng, 437.500 đồng, 200.000 đồng, 312.500 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày; ngày 25/02/2023 H3 trúng 400.000 đồng, ngày 07/3/2023 trúng 400.000 đồng, ngày 24/6/2023 trúng 800.000 đồng. Tổng số H3 mua số lô, số đề của T1 là 3.935.000đ, số tiền H3 trúng lô đề là 1.600.000đ. Tổng số tiền T1 và H3 sử dụng vào việc đánh bạc là 5.534.000đ. Số tiền T1 chiếm hưởng trái phép là 2.335.000đ, H3 chiếm hưởng trái phép là 1.600.000đ.

- Trong các ngày 12/3/2023; 23/3/2023 ; 29/3/2023 ; 16/4/2023 ; 25/4/2023 ; 03/5/2023;17/5/2023; 29/5/2023; 17/9/2023; 07/10/2023;08/10/2023; 12/10/2023; 13/10/2023 và 15/10/2023, T1 bán số lô đề cho Nguyễn Văn C tổng cộng số tiền là 2.545.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, C không trúng số nào. Tổng số tiền đánh bạc của T1 và C là: 2.545.000đ. T1 chiếm hưởng trái phép là 2.545.000đ

- Trong các ngày 15/4/2023; 07/6/2023 ; 23/12/2023, T1 bán số lô đề cho Nguyễn Văn P1 với số tiền tổng cộng là 150.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, P1 không trúng số nào. T1 chiếm hưởng 150.000đ

- Ngày 17/10/2023 T1 bán số lô đề cho Vũ Thị L1 với số tiền là 832.500 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, L1 trúng 2.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.832.500đ. Số tiền L1 chiếm hưởng là 2.000.000đ.

Như vậy tổng số tiền T1 đã bán lô, đề cho các đối tượng là 35.230.000đ. Đối chiếu kết quả Lành trúng 2.000.000đ, H3 1.600.000đ, số tiền T1 chiếm hưởng trái phép là: 35.320.000đ - 3.600.000đ = 31.630.000đ. Qua trình điều tra CQĐT đã thu tại nhà của tùng 28.890.000đ, số tiền T1 chiếm hưởng trái phép còn phải nộp là 2.740.000đ.

2. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T

Căn cứ kết quả kiểm tra, trích xuất nội dung tin nhắn trêm ứng dụng zalo, T6, Mesenger lưu trên điện thoại di động Samsung Galaxy A20S và Iphone XS của Nguyễn Văn T xác định được có 10 đối tượng nhắn tin đánh số lô đề với T với tổng số tiền như sau:

  • - Ngày 24/2/2024: Nguyễn Văn D1 là 4.155.000 đồng.
  • - Ngày 24/2/2024: Nguyễn Thị H4 là 775.000 đồng.
  • - Trần Mạnh H đã mua số lô, số đề của T tổng cộng là 8.510.000đ. Cụ thể:
  • + Ngày 07/5/2023: Trần Mạnh H ghi số lô, số đề của T tổng là 2.185.000 đồng (T và H thống nhất làm tròn để thanh toán cho nhau là 2.190.000 đồng). H đã thanh toán chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng trả cho T. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, H thắng được 3.200.000 đồng. T đã chuyển khoản trả cho H 3.200.000 đồng. Tổng số tiền T và H sử dụng vào việc đánh bạc trong ngày 07/5/2023 là 5.390.000 đồng.
  • + Ngày 08/5/2023: Trần Mạnh H mua số lô, số đề tổng cộng là 4.247.500 đồng (T và H thống nhất làm tròn để thanh toán cho nhau 4.250.000 đồng). H đã thanh toán chuyển khoản trả cho T. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, H thắng được 1.200.000 đồng. Sau đó, T đã chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng trả cho 1.200.000 đồng. Tổng số tiền T và H sử dụng vào việc đánh bạc trong ngày 08/5/2023 là 5.450.000 đồng.
  • + Ngày 09/5/2023: Trần Mạnh H mua số lô, số đề của T là 2.070.000 đồng. H đã thanh toán chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng trả cho cho T 1.400.000 đồng, nợ lại Trường 670.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, H không trúng số nào.
  • - Trong các ngày 11/5/2023, 13/5/2023, 14/5/2023, 15/5/2023: Vũ Văn H5 mua số lô đề của T với số tiền tổng cộng là 2.345.000đ. Đối chiếu kết quả H5 không trúng.
  • - Ngày 30/6/2023: Nguyễn Văn B1 mua số lô, số đề của T là 1.125.000 đồng. Đối chiếu kết quả Bộ không trúng.
  • - Ngày 30/6/2023: Vũ Văn V mua lô đề của T là 1.125.000 đồng. Đối chiếu kết quả V không trúng.
  • - Trong các ngày 27/8/2023, 10/9/2023, 13/10/2023, 18/12/2023: Vũ Đức A mua số lô đề của T với số tiền tổng cộng là 460.000đ. Đối chiếu kết quả A không trúng.
  • - Trong các ngày 20/9/2023, 15/10/2023, 27/11/2023: Vũ Mạnh C1 mua số lô đề của T với số tiền tổng cộng là 590.000đ. Đối chiếu kết quả C1 trúng 800.000đ.
  • - Ngày 02/12/2023: Vũ Văn Đ mua số lô đề của T là 100.000 đồng. Đối chiếu kết quả Đ không trúng.
  • - Ngày 13/01/2024: Trần Xuân T5 mua số lô, đề của T là 450.000 đồng. Đối chiếu kết quả Tịch không trúng.

Như vậy, tổng số tiền T đã bán lô, đề cho các đối gồm: T1, D1, H6, H5, Bộ, V, A, Đ, T5, H là 38.191.500đ.

3. Đối với Trần Mạnh H:

Tổng số tiền H mua số lô, số đề của T là 8.510.000đ. H đã trúng số lô đề là 4.400.000đ và còn nợ T số tiền 670.000đ tiền lô, đề chưa trả. H đã tự giác giao nộp nộp số tiền 4.400.000đ còn phải nộp lại số 670.000đ tiền lô, đề H còn nợ T.

Quá trình điều tra T còn khai nhận: Khoảng tháng 01/2024, có một người phụ nữ tên L ở xã N, huyện N đến đặt vấn đề với T nếu có khách mua số lô để thì chuyển cho L. Người phụ nữ tên L sử dụng tài khoản Zalo tên “Thiếp Ngọc L2", số điện thoại 0941.910.xxx và 0585852986. Đối với mỗi 1.000 đồng tiền đề, L2 tính cho T 840 đồng, T tính cho T1 860 đồng; mỗi điểm lô L2 tính cho T 21.750 đồng, T tính cho T1 22.000 đồng. T không biết tên, tuổi, địa chỉ cư trú cụ thể của người phụ nữ tên L2.

Tiến hành xác minh số điện thoại 0941.910.xxx là do bà Đỗ Thị H7, sinh năm 1964 (trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định) đứng tên đăng ký. Bà H7 khai không đăng ký số điện thoại trên và không biết người phụ nữ tên L2. Tiến hành xác minh số điện thoại 0585.852.xxx là do bà Trần Ngọc T7, sinh năm 1984 (trú tại: 481/84, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre) đăng ký. Hiện nay bà T7 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì. Do đó cơ quan CSĐT không xác định được người phụ nữ tên L2 để xử lý.

- Chiếc điện thoại Samsung galaxy J3 màu vàng Trần Mạnh H sử dụng để mua các số lô đề của T đã bị hỏng, H đã vứt đi nên không thu giữ được.

- Điện thoại của các đối tượng khác mua số lô số để của T1 và T đều đã bị hỏng, bị mất nên không thu giữ được.

Tại cơ quan điều tra: Các bị cáo Nguyễn Văn T; Nguyễn Thanh T1; Trần Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận xét trên.

Bản cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 02 tháng 8 năm 2024, VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T; Nguyễn Thanh T1; Trần Mạnh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà:

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nhận xét trên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

  • + Áp dụng Khoản 1 Điều 321 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 3 - 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024;
  • + Áp dụng Khoản 1 Điều 321 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị phạt bị cáo Trần Mạnh H từ 12 - 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 2 - 3 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Áp dụng Khoản 1 Điều 321 BLHS, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 từ 6 - 9 tháng tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Trừ thị thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024

Giao cho UBND xã L giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b Khoản 2 điều 106 BLTTHS:

Sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A20S màu đen; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO fx- 500MS; 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A16; 01 (một) máy tính nhãn hiệu Casio LC - 403TV, số tiền 27.767.500 đồng thu giữ của T1; 01 điện thoại Samsung và 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note7.

Truy thu sung ngân sách số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp 6.440.000 đồng của Nguyễn Văn T (trừ đi số tiền 5.300.000d T đã tự nguyện giao nộp); 4.400.000 đồng của Trần Mạnh H.

Trả lại cho Nguyễn Thanh T1 tiền 1.122.500 đồng.

Tiêu huỷ 01 tập cáp trắng kẹp giấy than; 03 bút bi.

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT; VKSND huyện Trực Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

2.1 Đối với Nguyễn Văn T:

Ngày 24/02/2024, Nguyễn Văn T nhận bảng ghi số lô, số đề do Nguyễn Thanh T1 chuyển với tổng số tiền lô, đề là 27.767.500 đồng. (T1 chưa chuyển tiền cho T).

Ngày 7/5/2023 T bán số lô, số đề cho Trần Mạnh H số tiền là 4.250.000đ (Hoài trúng 3.200.000đ). Ngày 8/5/2023, T bán cho H số tiền lô, đề là 2.190.000đ (Hoài trúng 1.200.000đ). Ngày 9/5/2023 T bán cho H số tiền lô, đề là 2.070.000đ (H không trúng và còn nợ T 670.000đ). Tổng số tiền lô đề T bán cho H là 8.510.000đ. Số tiền T và H sử dụng vào việc đánh bạc ngày 7/5/2023 là 7.450.000đ, ngày 8/5/2023 là 3.390.000đ. Số tiền T chiếm hưởng trái phép: 8.510.000đ - 4.400.000đ - 670.000đ= 3.440.000đ.

Ngoài ra T còn bán số lô, đề cho: Nguyễn Văn D1 nhiều ngày với tổng số tiền là 4.155.000 đồng, cho Nguyễn Thị H4 là 775.000 đồng cho Vũ Văn H5 là 2.345.000đ, Nguyễn Văn B1 1.125.000đ, Vũ Văn V là 1.125.000đ, Vũ Đức A 460.000đ, Vũ Văn Đ 100đ, Trần Xuân T5 450.000đ. Tổng cộng là 10.515.000đ. Đối chiếu kết quả D1, Huế, H5, Đăng T8 không trúng. Số tiền T chiếm hưởng trái phép số tiền 10.515.000đ.

Tổng số tiền T chiếm hưởng trái phép là 10.515.000đ + 3.440.000đ – 4.155.000đ - 775.000 (là số tiền D1, Huế phải nộp lại theo quyết định xử phạt hành chính) = 9.025.000đ.

2.2 Đối với Nguyễn Thanh T1:

Ngày 24/2/2024, T1 bán số lô, đề cho khách chơi là 27.767.500 đồng; T1 tổng hợp chuyển cho T nhưng chưa chuyển tiền cho T.

Ngoài ra, T1 còn sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Thanh T1” trên ứng dụng Zalo để bán các số lô, số đề cho 4 đối tượng với tổng số tiền như sau: Nguyên Văn H8 mua số lô, số đề của T1 là 3.935.000đ, số tiền H8 trúng lô đề là 1.600.000đ. T1 chiếm hưởng 2.335.000đ.

Nguyễn Văn C với số tiền tổng cộng là 2.545.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, C không trúng số nào. Tổng số tiền đánh bạc của T1 và C là: 2.545.000đ. T1 chiếm hưởng trái phép 2.545.000đ.

Nguyễn Văn P1 với số tiền tổng cộng là 150.000đ. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, P1 không trúng số nào. T1 chiếm hưởng trái phép là 150.000đ

Vũ Thị L1 với số tiền là 832.500 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, L1 trúng 2.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.832.500đ. Số tiền L1 thu lợi bất chính là 2.000.000đ.

Như vậy tổng số tiền T1, T và các đối tượng đã sử dụng vào việc đánh bạc tổng cộng là: 3 5.239.500đ. Số tiền T1 thu lợi bất chính là 35.239.500đ - 3.600.000đ = 31.639.500đ.

2.3 Đối với Trần Mạnh H:

H đã mua số lô, số đề của T 03 ngày với tổng số tiền là 8.510.000đ. H đã trúng số lô, số đề hai ngày là 4.400.000đ và còn nợ T số tiền 670.000đ tiền mua lô, đề chưa trả. H thu lợi bất chính là 5.070.000đ.

Hành vi của các bị cáo T, T1, H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.

[3] Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn T là người nhận bảng lô đề của T1 và trực tiếp bán số lô, số đề trái phép cho các đối tượng khác xếp vai trò số 1. Bị cáo Nguyễn Thanh T1 là người trực tiếp bán số lô, số đề trái phép, xếp vai trò số 2. Bị cáo Trần Mạnh H là người mua số lô, số đề trái phép, xếp vai trò số 3.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

4.1. Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Trần Mạnh H phạm tội từ hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo Nguyễn Thanh T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các con đều còn nhỏ, có bố đã tham gia kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Trong qua trình chuẩn bị xét xử bị cáo T đã tự nguyện nộp số tiền chiếm hưởng trái phép từ việc bán số lô, số đề là 5.300.000đ; bị cáo H nộp 4.400.000đ để sung công quỹ nhà nước, bị cáo T, H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Các bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, Bị cáo T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp; Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Mạnh H xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1 hiện nay đang bị Cơ quan điều tra khởi tố Truy tố về tội Đánh bạc trong vụ án khác hiện đang bị tạm giam vì vậy về hình phạt cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời giam mới đản bảo việc giáo dục cải tạo bị cáo nhưng cũng lên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi ba con nhỏ.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung Phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:

7.1.Tịch thu tiêu huỷ: 01 tập cáp trắng kẹp giấy than; 03 bút bi.

7.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A20S màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; 01 máy tính nhãn hiệu CASIO fx- 500MS; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A16; 01 máy tính nhãn hiệu Casio LC-403TV; 01 điện thoại Samsung và 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note7 là phương tiện, công cụ các đối tượng sử dụng vào việc mua bán trái phép số lô, đề trái phép.

[8] Buộc bị cáo Nguyễn Văn T9 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 31.639.500đ. Được trừ đi số tiền CQĐT đã thu giữ tại nhà T9 là 28.890.000. T9 còn phải nộp lại 2.749.500đ sung Ngân sách nhà nước.

[9] Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc ghi số, lô đề trái phép là 9.025.000đ sung công quỹ Nhà nước. Được trừ đi số tiền bị cáo đã tự nguyện giao nộp là 5.300.000đ theo biên lai thu số 0002797 ngày 23/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. T còn phải nộp lại số tiền 3.725.000đ sung Ngân sách nhà nước.

[10] Buộc bị cáo Trần Mạnh H nộp lại số tiền 5.070.000 đồng là tiền H thu lợi bất chính được trừ đi số tiền bị cáo đã nộp 4.400.000đ, theo biên lại thu số 0002680 ngày 26/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, bị cáo còn phải nộp 670.000đ.

[11] Đối với hành vi bán số lô, đề trái phép của Nguyễn Thanh T1 cho Nguyễn Văn P1, Vũ Thị L1, Nguyễn Văn C. Xét thấy, các đối tượng trên đều chưa có tiền án, tiền sự; hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là đúng pháp luật.

[12] Đối với hành vi mua số lô, đề trái phép của Vũ Đình Q, Nguyễn Văn Q1, Hà Đức H2, Hà Văn P, Nguyễn Văn T3, Vũ Văn T4, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Thị H4: Xét thấy, các đối tượng trên đều chưa có tiền án, tiền sự; hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là đúng pháp luật.

[12] Đối với hành vi bán số lô, đề trái phép của Nguyễn Thanh T1 cho Nguyễn Văn H3; Nguyễn Văn C từ ngày 12/3/2023 đến ngày 29/5/2023; Nguyễn Văn P1 trong các ngày 07/6/2023, 15/4/2023 và hành vi bán số lô, đề trái phép của Nguyễn Mạnh T10 cho Trần Mạnh H vào ngày 09/5/2023, Vũ Văn H9, Nguyễn Văn B1, Vũ Văn V, Vũ Đức A, Vũ Mạnh C1, Vũ Văn Đ, Trần Xuân T5. Xét thấy, các đối tượng nêu trên đều chưa có tiền án, tiền sự; hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Công an huyện T không xem xét xử lý là đúng pháp luật.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T1, Trần Mạnh H phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Căn cứ 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1 Điều, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS:
      • - Xử phạt Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26-9-2024). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024
      • - Xử phạt Trần Mạnh H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26-9-2024).
      • - Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã L, Huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
      • - Giao bị cáo Trần Mạnh H cho UBND xã V, Huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt Nguyễn Thanh T1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt bị cáo (bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024).
  2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T1, Trần Mạnh H.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:
    • 3.1. Tịch thu tiêu huỷ: 01 tập cáp trắng kẹp giấy than; 03 bút bi.
    • 3.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A20S màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; 01 máy tính nhãn hiệu CASIO fx- 500MS; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A16; 01 máy tính nhãn hiệu Casio LC-403TV; 01 điện thoại Samsung và 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note7.

    (vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 64/THA ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).

  4. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền 3.725.000 đồng (ba triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) là tiền T thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
  5. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T1 nộp lại số tiền 2.749.500 đồng (hai triệu, bảy trăm bốn chín nghìn, năm trăm đồng) là tiền T1 thu lợi bất chính sung công quỹ Nhà nước.
  6. Buộc bị cáo Trần Mạnh H nộp lại số tiền 670.000 đồng (sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) đồng là số tiền H thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
  7. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh T1, Trần Mạnh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, các Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Công an huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tội đánh bạc (điều 321 blhs)

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc (Điều 321 BLHS)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger