1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 71/2024/HSST Ngày: 09-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Võ Trường Tam .
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Trần Hoàng Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST - HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Hoàng K, sinh ngày: 20/11/2001.
Nơi thường trú: Tổ B, ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh T và bà Huỳnh Thị Trúc T1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 559/QĐ-TA, ngày 23/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, đến ngày 11/9/2022 chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Trần Quang V, sinh năm: 2005 (có mặt).
Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm: 1983 (có mặt).
2
Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
2/ Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 09/6/2024, Phạm Hoàng K đi bộ từ nhà đến nhà bạn chơi. Khi đến đoạn đường H thuộc ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An, K phát hiện 01 (một) xe môtô hiệu Honda, loại Wave S110, màu xanh, BS: 62X2 - 5109 của anh Trần Quang V đang đậu tại mái hiên bên hông căn nhà có gắn sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. K đi vào cửa rào đang mở, đến vị trí xe môtô quay đầu xe ra đường, leo lên bật chìa khóa, nổ máy, điều khiển xe tẩu thoát. Sau đó, K đem xe môtô vừa trộm được đến nhà một người tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực xã T, huyện C, tỉnh Long An và cầm cho Q được số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), K đã sử dụng tiêu xài hết. Ngày 10/6/2024, Công an xã L mời K làm việc thì K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số: 31/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S110, màu xanh, BS: 62X2 - 5109, có giá trị: 12.333.000 đồng (mười hai triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKSCG, ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Hoàng K từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
3
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo K, buộc bị cáo K phải bồi thường cho bị hại Trần Quang V số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) là giá trị xe mô tô.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng là xin lỗi bị hại và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 09/6/2024 tại nhà anh Trần Quang V thuộc ấp T, xã L, huyện C, bị cáo K đã có hành vi lén lúc lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S110, màu xanh, BS: 62X2 - 5109, của anh V. Sau đó K đã cầm chiếc xe cho đối tượng Q không rõ nhân thân với số tiền 5.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời Khôi làm việc, bị cáo K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS, ngày 12/6/2024 kết luận giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá: 12.333.000 đồng. Tài sản bị cáo K chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng thành khẩn
4
khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: theo Quyết định số 559/QĐ-Đ-TA, ngày 23/8/2021, của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, đến ngày 11/9/2022 chấp hành xong. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với đối tượng Q, theo bị cáo K khai là người cầm chiếc xe môtô trộm được tại xã T, huyện C, tỉnh Long An qua xác minh chưa tìm được đối tượng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C có Công văn số 313/CV-CSĐT, ngày 07/8/2024 gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh và xử lý theo thẩm quyền. Đối với anh Nguyễn Thanh T2, là chủ tiệm cầm đồ, nhưng qua làm việc thì không thể hiện việc anh T2 có nhận cầm xe mô tô, nên không xem xét.
[8] Trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại Trần Quang V yêu cầu bị cáo K phải bồi thường số tiền là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng), do xe mô tô đã được anh V sửa chữa lại toàn bộ vào tháng 01/2024, do anh Phan Khánh Q1 sửa chữa. Trước yêu cầu của anh V, bị cáo đồng ý bồi thường, nên ghi nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Thúy L (mẹ anh V) là người đứng tên xe mô tô, tại phiên tòa không yêu cầu, nên không xem xét.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải bồi thường cho bị hại là 25.000.000 đồng. Theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Hoàng K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/6/2024.
5
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (09/9/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Phạm Hoàng K phải bồi thường cho bị hại Phạm Quang V1 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
6
Bản án số 71/2024/HSST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoàng K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
