TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HSST Ngày: 10-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Võ Tự Trị
- 2/ Ông Bùi Quang Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Văn P, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1993 tại Cần Thơ.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Đ, sinh năm 1974 (sống) và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1976 (sống); em ruột: 01 người, sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 11/6/2024 và đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ 20/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Như M, sinh năm 2005. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
Người chứng kiến:
Ông Lê Tuấn K, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân qua điện thoại, có đối tượng Thái Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi tiếp nhận tin báo, vào lúc 12 giờ 40 phút ngày 11/6/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ phối hợp Công an phường P tiến hành khám xét khẩn cấp người, phương tiện đối với Thái Văn P tại khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Qua khám xét phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của P đang mặc có 02 (hai) cục chất bột màu trắng (nghi là ma túy), mỗi cục chất bột được quấn trong miếng giấy bạc để trong vỏ gói nilong nên lực lượng Công an tiến hành niêm phong thu giữ và thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn trắng, đen, bạc, số loại Wave Alpha, biển kiểm soát 65F1-747.56, đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3921NY308116, số máy: JA39E-2805066, đã qua sử dụng: 01 (một) điện thoại di động màu đen, có ghi chữ S, IMEI 1: 352812105640611, IMEI 2: 352813105640619, gắn sim Mobifone có số seri: 8401221050158166, màn hình phía trước bị nứt, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Thái Văn P thừa nhận: Phố bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021, vào ngày 11/6/2024 P điều khiển xe mô tô biển số 65F-747.56 đi qua thành phố V, tỉnh Vĩnh Long mua ma túy loại Heroine của một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), trên đường về đến khu V, phường P, quận Ô thì bị lực lượng Công an khám xét thu giữ, mục đích Phố mua ma túy về để sử dụng, không có ai hùn tiền với P mua ma túy.
Tại Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong hai gói giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 0,2181 gam.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho P, P khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô không xác minh được, tiếp tục làm rõ đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSOM ngày 26/8/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ để xét xử Thái Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trong cáo trạng. Qua đó, có phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, về nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng áp dụng: Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong được niêm phong số 152/KL-KTHS ngày 19/6/2024 có chữ ký của cán bộ niêm phong Đặng Thúy H, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an thành phố C;
- + Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65F1-747.56, màu trắng đen bạc, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung: RLHJA3921NY308116, số máy: JA39E-2805066, đã qua sử dụng: 01 (một) điện thoại di động màu đen, có ghi chữ S, IMEI 1: 352812105640611, IMEI 2: 352813105640619, gắn sim Mobifone có số seri: 8401221050158166, màn hình phía trước bị nứt, đã qua sử dụng.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 11/6/2024; Biên bản khám xét ngày 11/6/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 11/6/2024; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định ngày 11/6/2024; Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố C; Các biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng là 0,2181 gam, loại Heroine do bị cáo mua về cất giấu trong túi quần bên phải phía trước của bị cáo đang mặc để tìm nơi sử dụng, điều này cho thấy bị cáo phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ma túy là hiểm họa lớn của toàn nhân loại, đã trực tiếp hủy hoại cuộc sống của hàng triệu con người và là mối đe dọa lớn đối với đời sống xã hội, đất nước. Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại và hậu quả của việc tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã vi phạm pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ. Đồng thời, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, để răn đe bị cáo, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thể hiện bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết này và xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo để cân nhắc hình phạt khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo khi chấp hành án nên không phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án: Theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô không xác minh được, tiếp tục làm rõ đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Do đó, kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Thái Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Thái Văn P 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 152/KL-KTHS ngày 19/6/2024 có chữ ký của cán bộ niêm phong Đặng Thúy H, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an thành phố C.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65F1-747.56, màu trắng đen bạc, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE ALPHA, số khung: RLHJA3921NY308116, số máy: JA39E-2805066, đã qua sử dụng: 01 (một) điện thoại di động màu đen, có ghi chữ SAMSUNG, IMEI 1: 352812105640611, IMEI 2: 352813105640619, gắn sim Mobifone có số seri: 8401221050158166, màn hình phía trước bị nứt, đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/8/2024 của Công an quận Ô)
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án, để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 71/2024/HSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 71/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
