|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST. Ngày 07-05-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoát và bà Lê Thị Tuyết Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 10/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 23/04/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn L, sinh năm 1988 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Trương Thị K; vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/02/2023, Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 3.500.000đồng về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; nhân thân: Ngày 25/04/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra quyết định áp dụng biện pháp đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 07/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 33 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2020; bị bắt, tạm giữ ngày 25/01/2024, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1984; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, Phạm Văn L từ nhà đi bộ đến cổng chính Trường đại học Công nghiệp Hà Nội cơ sở 2 tại Hà Nam thuộc thôn 1, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (L không biết tên tuổi, địa chỉ), trong lúc nói chuyện L hỏi người này: “Anh có hàng không bán cho em hai trăm”, hiểu ý L hỏi mua ma túy người đàn ông nói: “Có, đưa tiền đây”. Thấy người đàn ông nói vậy, L lấy ra số tiền 200.000đồng đưa cho người này. Người đàn ông cầm tiền rồi bỏ đi, một lát sau người đó quay lại đưa cho L 01 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Biết gói giấy người đàn ông đưa cho là ma túy nên L liền cầm lấy, giữ trong lòng bàn tay phải rồi đi ra khu đất trống vắng người mở gói ma túy mua được ra chia thành ba gói nhỏ rồi gói lại bằng giấy màu trắng có dòng kẻ cất giữ mục đích để sử dụng dần. Sau đó, L đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý phát hiện, bắt giữ quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 03 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản Kết luận giám định số 121/KL-KTHS ngày 30/01/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,182gam, loại Heroine”.
Bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-PL ngày 10/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Phạm Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Phạm Văn L, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Phạm Văn L từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 25/01/2024, tại khu vực thôn 1, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, Phạm Văn L bị lực lượng Công an xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,182 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân xấu do đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bản thân đã từng bị kết án phạt tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn (đã được xóa án tích và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã từng bị kết án về tội phạm ma túy và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm liên quan đến ma túy nhưng đã không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân, biết ăn năn hối cải mà vẫn tiếp tục vi phạm do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi gặp ở khu vực cổng chính Trường đại học Công nghiệp Hà Nội cơ sở 2 tại Hà Nam theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/01/2024.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 121/KTHS, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 10/04/2024.
- Án phí: Bị cáo Phạm Văn L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
