Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày 29/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Huấn

2. Ông Thái Quang Thọ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST- HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST - HS ngày 19/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày:14 tháng 8 năm 1978; Nơi thường trú: Tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường N, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 04/9/2022;Bố đẻ: Trần Văn Q1 (Đã chết): Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1960. Hiện ở tại phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Anh chị em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con cả; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1994. Hiện ở tại xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Con: Có 01 con, sinh năm 2018. Hiện ở cùng mẹ; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án sơ thẩm số 310 ngày 13/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và bản án phúc thẩm số 912 ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc. (Đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 28/3/2024; Chấp hành xong 200.000 đồng án phí HSST ngày 23/9/2022).Nhân thân: Tại bản án sơ thẩm số 58 ngày 26/4/2002 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc.(Đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 26/4/2003; Chấp hành xong 50.000 đồng án phí HSST ngày 09/9/2002); Tại bản án sơ thẩm số 21 ngày 24/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. (Đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 24/9/2007; Chấp hành xong 2.045.000 đồng án phí HSST cộng truy thu ngày 20/5/2013). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Dương Việt D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;Sinh ngày: 01 tháng 9 năm 1970;Nơi thường trú và chỗ ở: Khu D, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 28/6/2021; Bố đẻ: Dương Hữu C, sinh năm: 1948; Mẹ đẻ: Trần Thị S (Đã chết);Anh chị em ruột: Có 06 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1973.Con: Có 02 con. Lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2004, bị Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Hình thức xử phạt: 750.000 đồng, xác minh tại Công an huyện P không con lưu trữ hồ sơ xử phạt hành chính trên đối D; Tại bản án sơ thẩm số 43 ngày 27/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh và bản án phúc thẩm số 76 ngày 22/10/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. (Đã chấp hành xong hình phạt chính, nộp án phí HSST 200.000 đồng ngày 12/01/2010, nộp xong số tiền 4.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước ngày 31/12/2013). Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 23/7/2024 đến nay.

3. Họ và tên: Dương Quang N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18 tháng 10 năm 1994; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khu G, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 28/6/2023; Bố đẻ: Dương Văn C1, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Trần Thị H1, sinh năm 1964; Hiện bố, mẹ bị cáo đều ở khu I, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: Có 03 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2016, bị Công an huyện L, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô, số đề. Hình thức xử phạt: 350.000 đồng (Đã chấp hành xong ngày 17/10/2016); Năm 2017, bị Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Hình thức xử phạt: 2.500.000 đồng. Bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt; Công an thị xã P không áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính, đến nay đã hết thời hiệu thi hành; Năm 2019, bị Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Hình thức xử phạt: 750.000 đồng. Bị cáo chưa thi hành quyết định xử phạt; Công an huyện T không áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính, đến nay đã hết thời hiệu thi hành. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P từ ngày 20/8/2024 đến nay.

4. Họ và tên: Dương Hữu C2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29 tháng 01 năm 1980; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 28/6/2021; Bố đẻ: Dương Đình P (Đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị T2, sinh năm: 1948; Anh chị em ruột: Có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; Con: Có 02 con. Lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2019, bị Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.Hình thức xử phạt: 1.500.000 đồng (Đã chấp hành xong ngày 26/3/2019); Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/8/2024 đến ngày 28/8/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 28/8/2024 cho đến nay.

5. Họ và tên: Hoàng Tân D1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12 tháng 5 năm 1981; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...] cấp ngày 16/4/2021; Bố đẻ: Hoàng Khắc P1 (Đã chết); Mẹ đẻ: Dương Thị H2, sinh năm 1953. Hiện đang ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đỗ Thị K, sinh năm: 1982. (Đã ly hôn); Con: 01 con (sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 23/7/2024 đến nay.

6. Họ và tên: Dương Văn N1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29 tháng 9 năm 1971; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 25/4/2021; Bố đẻ: Dương Văn K1 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K2 (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Trần Thị S1, sinh năm: 1973; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 23/7/2024 đến nay.

7. Họ và tên: Dương Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06 tháng 10 năm 1972; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 25/4/2021; Bố đẻ: Dương Văn B (Đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị L (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Hà Thị T3, sinh năm: 1974; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2000; Hiện vợ, con đang sống tại Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 23/7/2024 đến nay.

8. Họ và tên: Phạm Văn C3; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08 tháng 7 năm 1987; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân: [...]; cấp ngày 25/6/2021; Bố đẻ: Phạm Văn C4 (Đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị M1, sinh năm: 1955. Hiện ở tại khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: Có 05 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1989. Hiện ở tại khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 03 con (Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020). Hiện ở cùng bố mẹ; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/7/2024 đến ngày 28/8/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 28/8/2024 cho đến nay.

( Các bị cáo đều có mặt tại phiên toà) .

Người có quyền lợi nghĩa vụ Liên quan:

1. Anh Trần Văn T5, sinh năm: 1974,

ĐKHKTT: Khu C, xã H, thị xã P( Vắng mặt)

2. Anh Vi Đức L1, sinh năm 1966.

Trú tại: Khu E, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, nhận được thông tin của quần chúng nhân dân có một số đối tượng tụ tập đánh bạc tại sườn đồi cây thuộc khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an thị xã P đã tiến hành kiểm tra, xác minh. Khi phát hiện thấy có lực lượng Công an, số đối tượng trên đã bỏ chạy, tổ công tác đã tiến hành truy đuổi, bắt giữ được Vi Đức L1, sinh năm 1966 thường trú tại khu E, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Tân D1, sinh năm 1981 và Dương Văn N1, sinh năm: 1971 (cùng trú tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ); Nguyễn Thị Thúy N2, sinh năm 2003 trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Đồ vật tài liệu tạm giữ trong quá trình kiểm tra tại địa điểm các đối tượng đánh bạc và làm rơi khi bị lực lượng Công an truy đuổi gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA WAVE, màu đỏ, biển số 19K8-9103; 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA DREAM, biển số: 19K1-324.94; 01 (một) điện thoại di động IPHONE mặt sau màu hồng, màn bị vỡ không rõ hình, số IMEI: 35576807295360, lắp sim số 0369975235; 01 (một) chiếc bát sứ; 01 (một) mảnh bạt (một mặt màu cam một mặt màu xanh, kích thước 2,54m x 4,1m); 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 02 (hai) quân vị hình tròn; Tiền ngân hàng N3: 1.000.000 đồng. Tạm giữ của Dương Văn N1: Số tiền 2.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động IPHONE, số IMEI: 355729078377939, lắp sim số 0389185665. Tạm giữ của Vi Đức L1: 01 (một) điện thoại SAMSUNG, số IMEL: 358475773533866, lắp sim số 0366275296. Tạm giữ của Hoàng Tân D1: 01 (một) điện thoại IPHONE, số IMEL: 353097100560266, lắp sim số 0384668734. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản sự việc đồng thời niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành rà soát, xác minh triệu tập các đối tượng có liên quan đến hành vi đánh bạc trong vụ việc theo quy định.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Ngày 05/7/2024, Dương Quang N, sinh năm 1994, nơi thường trú: Khu G, xã H, thị xã P rủ Dương Văn N1; Dương Hữu C2, sinh năm 1980, thường trú: Khu H, xã H, thị xã P; Dương Việt D, sinh năm 1970, nơi thường trú: Khu D, xã H, thị xã P; Phạm Văn C3, sinh năm 1987, nơi thường trú: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và một người đàn ông tên M2 (Không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đi đánh bạc bằng hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền. Sau đó, Dương Văn N1 rủ Dương Văn Đ, sinh năm 1972, nơi thường trú: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Phạm Văn C3 rủ H3 Tân Dậu đi đánh bạc cùng những người trên. Đến khoảng 12 giờ ngày 05/7/2024, N mang theo 01 (một) túi nilon màu đen bên trong chứa 01(một) mảnh bạt, 01 chiếc đĩa sứ, 01 (một) chiếc bát sứ, 01 (một) chiếc kéo và 06 (sáu) quân bài tú lơ khơ để làm công cụ đánh bạc, đồng thời N thuê một chiếc taxi của một người nam giới (Không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển đến đón C3, D1, N1, Đ, C2, D, rồi N chỉ đường cho lái xe đi vào đồi cây thuộc khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì dừng lại. C3, D1, N1, Đ, C2, D xuống xe ô tô đi theo N lên đồi cây, còn lái xe taxi điều khiển ô tô rời đi. N dẫn những người trên đến bãi đất trống ở sườn đồi thì sử dụng bạt dải ở nền đất để ngồi và sử dụng kéo cắt 04 (bốn) quân vị hình tròn từ 02 (hai) lá bài tú lơ khơ mang theo (một mặt màu xanh và một mặt màu trắng có họa tiết hình trái tim màu đỏ). Sau đó, C3 là người cầm cái, tất cả ngồi thành vòng tròn lần lượt là D1, C3, C2, N1, Đ, N, D để đánh bạc dưới hình thực xóc đĩa được thua bằng tiền. Đối với Vi Đức L1 khai nhận: “Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 05/7/2024, sau khi tôi đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện B1 thuộc thành phố Hà Nội về đến thị xã P thì thuê xe ôm của một nam giới không rõ địa chỉ để chở về nhà ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, người này chở tôi đi theo đường mòn từ xã H qua khu đồi (tôi không biết khu đồi này). Khi đến khu vực ngã 3 trong khu rừng bạch đàn thì rề rừng có dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, không rõ biển số và có một nam giới đang đứng ở đó chào hỏi nam giới chở tôi, rồi nam giới chở tôi bảo xuống xe ngồi nghỉ hút thuốc. Khoảng 05 phút sau thì thấy lực lượng Công an thị xã P đến kiểm tra thì hai nam giới này bỏ chạy, còn tôi đứng lại thì các anh Công an đưa về trụ sở để xác minh”.

Về hình thức đánh bạc: Các bị cáo thống nhất người cầm cái sử dụng 04 (bốn) quân vị hình tròn, sau đó cho quân vị vào đĩa sứ, úp bát sứ lên, dùng hai tay xóc lên xóc xuống nhiều lần rồi đặt xuống chiếu bạc. Người chơi đặt tiền cược với lượng tiền tùy ý vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ quy định bên phải là chẵn bên trái là lẻ của người cầm cái. Sau khi người chơi đã đặt cược xong thì người cầm cái mở bát để tất cả người chơi nhìn thấy 04 quân vị. Nếu có 04 quân vị cùng một màu hoặc 02 quân vị màu xanh và 02 quân vị màu trắng in hình trái tim màu đỏ thì người chơi đặt cửa chẵn thắng. Người cầm cái sẽ phải trả cho người thắng số tiền tương ứng với số tiền đã đặt, còn người chơi đặt cửa lẻ thua phải trả cho người cầm cái số tiền đã đặt cửa. Nếu có 03 quân vị cùng màu, còn 01 quân vị khác màu thì người chơi đặt cửa lẻ thắng. Khoảng 10 phút sau, khi C3, D1, C2, N1, Đ, N, D đang đánh bạc với nhau, thì có Mỵ, Trần Văn Q, sinh năm: 1978, thường trú Tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đi taxi của một nam thanh niên không quen biết đến tham gia đánh bạc cùng (đi cùng Q có Nguyễn Thị Thúy N2, tuy nhiên N2 chỉ ngồi xem không tham gia đánh bạc cùng). Những người trên đánh bạc liên tục nhiều ván đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi phát hiện thấy lực lượng Công an thị xã P đến, tất cả đã thu dọn công cụ, tiền sử dụng đánh bạc rồi bỏ chạy như đã nêu ở trên.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

Dương Văn Đ khai mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Đoàn đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, Đ cầm toàn bộ số tiền đang đánh bạc bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại Đ còn lại số tiền 1.500.000 đồng.

Trần Văn Q khai mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Quảng đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, Q có số tiền là 2.100.000 đồng (lãi 100.000 đồng), quá trình bỏ chạy Q đánh rơi 1.000.000 đồng (phù hợp với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ được tại hiện trường đánh bạc), Q còn lại 1.100.000 đồng.

Dương Hữu C2 khai mang theo và bỏ ra số tiền 370.000 đồng để đánh bạc. Cầu đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, C2 cầm toàn bộ số tiền đang đánh bạc bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại Đ còn lại số tiền 70.000 đồng (thua 300.000 đồng).

Dương Quang N khai mang theo và bỏ ra số tiền 700.000 đồng để đánh bạc. N đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, N bỏ chạy cầm theo số tiền là 1.300.000 đồng (thắng 600.000 đồng).

Dương Văn N1 khai mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Nghiêm đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện giữ lại, N1 vẫn còn số tiền là 2.000.000 đồng (không thắng, không thua).

Dương Việt D khai mang theo và bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. D đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, D bỏ chạy và thua hết số tiền trên.

Phạm Văn C3 khai mang theo và bỏ ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. C3 đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, C3 cầm toàn bộ số tiền đánh bạc để bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại, C3 có số tiền là 1.600.000 đồng (thắng 1.000.000 đồng).

Hoàng Tân D1 khai mang theo và bỏ ra số tiền khoảng 400.000 đồng để đánh bạc. Dậu đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện giữ lại, D1 thua hết toàn bộ số tiền trên.

Các đối tượng đánh bạc không nộp tiền hồ cho ai, không có ai cảnh giới hay canh gác để phục vụ việc đánh bạc.

Như vậy tổng số tiền các bị cáo khai sử dụng để đánh bạc là 8.570.000 đồng. Quá trình điều tra, các bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền dùng để đánh bạc như đã nêu trên. Do Phạm Văn C3, Dương Hữu C2, Trần Văn Q có dấu hiệu bỏ trốn, nên cơ quan điều tra áp dụng biện pháp bắt tạm giam là phù hợp.

Kết quả xác minh điều kiện kinh tế: Các bị cáo D, N1, C3, Đ, Q có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày. Bị cáo D1, N, C2 ở cùng bố mẹ không có nhà đất tài sản gì có giá trị.

Về vật chứng, tài sản thu giữ, quá trình điều tra xác định:

  • - Tiền ngân hàng N3: 8.570.000 đồng (là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc thu giữ trong quá trình điều tra),
  • - 01 (một) chiếc bát sứ; 01 chiếc đĩa sứ; 01 (một) mảnh bạt; 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 04 (hai) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, được thu giữ trong quá trình phát hiện truy đuổi các bị cáo đánh bạc giao nộp trong giai đoạn điều tra (nguồn gốc số đồ vật trên là đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của nhà bị cáo N, đối với quân bài tú lơ khơ N đã mua từ lâu),
  • - 01 (một) điện thoại di động IPHONE, số IMEI: 355729078377939, lắp sim số 0389185665 là tài sản hợp pháp của bị cáo Dương Văn N1, dùng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội
  • - 01 (một) điện thoại di động IPHONE, số IMEL: 353097100560266, lắp sim số 0384668734 là tài sản hợp pháp của bị can Hoàng Tân D1, dùng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội,
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone mặt sau màu hồng, màn bị vỡ không rõ hình, số IMEI: 35576807295360, lắp sim số 0369975235, đây là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn T5, sinh năm: 1974, thường trú tại khu C, xã H, thị xã P làm rơi trước đó một tuần. Anh T5 không liên quan đến hành vi đánh bạc trên.
  • - 01 (một) điện thoại SAMSUNG, số IMEL: 358475773533866, lắp sim số 0366275296 anh Vi Đức L1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 05/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại anh L1.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA WAVE, màu đỏ, biển số: 19K8-9103 và 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA DREAM, biển số: 19K1-324.94. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc xe mô tô trên đăng ký mang tên anh Trần Mạnh H4, sinh năm: 1980, thường trú khu M, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ và anh Hà Tiến H5, sinh năm: 2000, thường trú khu B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hai chiếc xe trên anh Trần Mạnh H4 và anh Hà Tiến H5 đã bán cho người không quen biết, do thời gian bán đã lâu, khi mua bán không viết tờ mua bán xe nên chưa xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp, quá trình điều tra xác định 02 chiếc xe mô tô trên không có trong hệ thống tra cứu dữ liệu vật chứng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P tách ra để tiếp tục xác minh truy tìm chủ sở hữu hợp pháp, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quang N khai nhận : Ngày 05/7/2024 bị cáo rủ N1; C2, D, C3 và một người đàn ông tên M2 (Không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đi đánh bạc bằng hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền. Sau đó, N1 rủ Đ, C3 rủ D1 đi đánh bạc cùng chúng tôi. Đến khoảng 12 giờ ngày 05/7/2024, bị cáo mang theo 01 (một) túi nilon màu đen bên trong chứa 01(một) mảnh bạt, 01 chiếc đĩa sứ, 01 (một) chiếc bát sứ, 01 (một) chiếc kéo và 06 (sáu) quân bài tú lơ khơ để làm công cụ đánh bạc, đồng thời bị cáo thuê một chiếc taxi của một người nam giới (Không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển đến đón C3, D1, N1, Đ, C2, D, rồi bị cáo chỉ đường cho lái xe đi vào đồi cây thuộc khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì dừng lại. C3, D1, N1, Đ, C2, D xuống xe ô tô đi theo bị cáo lên đồi cây, còn lái xe taxi điều khiển ô tô rời đi. Bị cáo dẫn những người trên đến bãi đất trống ở sườn đồi thì sử dụng bạt dải ở nền đất để ngồi và sử dụng kéo cắt 04 (bốn) quân vị hình tròn từ 02 (hai) lá bài tú lơ khơ mang theo (một mặt màu xanh và một mặt màu trắng có họa tiết hình trái tim màu đỏ). Sau đó, C3 là người cầm cái, tất cả ngồi thành vòng tròn lần lượt là D1, C3, C2, N1, Đ, N, D để đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Khoảng 10 phút sau, khi bị cáo Chung, D1, C2, N1, Đ, D đang đánh bạc với nhau, thì có M2, Q, thường trú Tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội đi taxi của một nam thanh niên không quen biết đến tham gia đánh bạc cùng (đi cùng Q có N2, nhưng N2 chỉ ngồi xem không tham gia đánh bạc cùng). Chúng tôi đánh bạc liên tục nhiều ván đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi phát hiện thấy lực lượng Công an thị xã P đến, tất cả đã thu dọn công cụ, tiền sử dụng đánh bạc rồi bỏ chạy như đã nêu ở trên. Bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 700.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo bỏ chạy cầm theo số tiền là 1.300.000 đồng bị cáo thắng 600.000 đồng. Cơ quan công an thu giữ trong qúa trình phát hiện truy đuổi và quá trình điều tra chúng tôi giao nộp 01 (một) chiếc bát sứ; 01 chiếc đĩa sứ; 01 (một) mảnh bạt; 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 04 (hai) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo, nguồn gốc số đồ vật trên là đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của nhà bị cáo riêng đối với quân bài tú lơ khơ bị cáo đã mua từ lâu. Bị cáo sống cùng bố mẹ không có tài sản gì có giá trị

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Hữu C2 khai nhận: Lời khai của bị cáo N vừa trình bày là hoàn toàn đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và cũng đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã phú thọ đã truy tố bị cáo không trình bày thêm gì khác. Bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 370.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo cầm toàn bộ số tiền đang đánh bạc bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại bị cáo còn lại số tiền 70.000 đồng, thua 300.000 đồng. Bị cáo sống cùng bố mẹ không có tài sản gì có giá trị

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Tân D1 khai nhận: Quá trình bị cáo tham gia đánh bạc như lời khai của bị cáo N vừa trình bày là hoàn toàn đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và cũng đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã phú thọ đã truy tố bị cáo không trình bày thêm gì khác. Bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền khoảng 400.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện giữ lại, bị cáo thua hết toàn bộ số tiền trên. Bị cáo bị thu giữ 01 (một) điện thoại di động IPHONE. Bị cáo sống cùng bố mẹ không có tài sản gì có giá trị.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn N1 khai nhận: Quá trình bị cáo tham gia đánh bạc như lời khai của bị cáo N vừa trình bày là hoàn toàn đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và cũng đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã phú thọ đã truy tố bị cáo. Bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện giữ lại, bị cáo vẫn còn số tiền là 2.000.000 đồng (không thắng, không thua). Bị cáo bị thu giữ 01 (một) điện thoại di động IPHONE. Bị cáo có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn Đ khai nhận: Quá trình bị cáo tham gia đánh bạc đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã phú thọ đã truy tố bị cáo. Bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo cầm toàn bộ số tiền đang đánh bạc bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại bị cáo còn lại số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Việt D khai nhận: Bi cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã phú thọ đã truy tố đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo bỏ chạy và thua hết số tiền trên. Bị cáo có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn C3 khai nhận: Quá trình bị cáo tham gia đánh bạc đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đã truy tố bị cáo. Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo cầm toàn bộ số tiền đánh bạc để bỏ chạy, sau đó kiểm đếm lại, bị cáo có số tiền là 1.600.000 đồng thắng 1.000.000 đồng. Bị cáo có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q khai nhận: Khi bị cáo C3, D1, C2, N1, Đ, D đang đánh bạc với nhau, Khoảng 10 phút sau, thì bị cáo và M2, đi taxi của một nam thanh niên không quen biết đến tham gia đánh bạc cùng, đi cùng bị cáo có N2, nhưng N2 chỉ ngồi xem không tham gia đánh bạc cùng. Chúng tôi đánh bạc liên tục nhiều ván đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi phát hiện thấy lực lượng Công an thị xã P đến, tất cả đã thu dọn công cụ, tiền sử dụng đánh bạc rồi bỏ chạy như các bị cáo đã trình bày ở trên. Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo và bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo đánh bạc nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện, bị cáo có số tiền là 2.100.000 đồng lãi 100.000 đồng, quá trình bỏ chạy bị cáo đánh rơi 1.000.000 đồng thu giữ tại hiện trường đánh bạc, bị cáo còn lại 1.100.000 đồng. Bị cáo có tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà đang ở sinh hoạt hàng ngày.

Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKSTXPT ngày 14/11/2024 VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm hình sự:

Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Dương Văn N1, Dương Hữu C2, Phạm Văn C3, Dương Văn Đ, Hoàng Tân D1, Dương Quang N, Dương Việt D và Trần Văn Q phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 xử phạt Trần Văn Q từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 02/8/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt Dương Việt D từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời gian cải tạo tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt Dương Quang N từ 13 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời gian cải tạo tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt Dương Hữu C2 từ 12 tháng đến 14 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời gian cải tạo tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Được trừ thời gian bị tạm giam 23 ngày = 69 ngày CTKGG (tạm giam từ ngày 05/8/2024 đến ngày 28/8/2024)

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS xử phạt H3 Tân Dậu từ 27.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Điều 35 BLHS xử phạt Dương Văn N1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Điều 35 BLHS xử phạt Dương Văn Đ từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Điều 35 BLHS xử phạt Phạm Văn C3 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.570.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc bát sứ; 01 chiếc đĩa sứ; 01 (một) mảnh bạt; 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 04 (bốn) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo.
  • - Trả lại: 01 (một) điện thoại di động IPHONE, số IMEI: 355729078377939, lắp sim số 0389185665 cho N1; 01 (một) điện thoại di động IPHONE, số IMEL: 353097100560266, lắp sim số 0384668734 cho Dậu; 01 (một) điện thoại di động Iphone mặt sau màu hồng, màn bị vỡ không rõ hình, số IMEI: 35576807295360, lắp sim số 0369975235 cho anh T5.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTTV Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật và rất ăn năn, hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo đầy đủ, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Khoảng 12 giờ ngày 05/7/2024, tại sườn đồi cây thuộc khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Các bị cáo Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3, Hoàng Tân D1, Dương Quang N, Trần Văn Q, Dương Hữu C2, Dương Việt D đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thị xã P phát hiện thu giữ các đồ vật để thực hiện việc đánh bạc và lập biên bản sự việc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.570.000 đồng (Tám triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng).

Lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lới khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3 phạm tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Qua đó thấy rằng,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 321 BLHS quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng cho đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng nếp sống văn minh gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an của địa phương cũng như toàn xã hội. Hơn nữa nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trong khác và là tệ nạn của xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn các bị cáo đều là người thực hiện hành vi đánh bạc trong vụ án, mục đích phạm tội là tư lợi.

Xét về nguyên nhân, động cơ, điều kiện phạm tội: Các bị cáo đều có sự hiểu biết nhưng ý thức tuân theo pháp luật kém, không chịu khó lao động chân chính, tụ tập đông người sát phạt nhau để kiếm tiền bất hợp pháp.Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Do vậy, vụ án này cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt thì cần xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau :

Đối với bị cáo Trần Văn Q trước lần phạm tội này đã bị kết án về tội Đánh bạc theo bản án phúc thẩm số 912 ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, nên hành vi phạm tội lần này bị cáo Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”. theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền dùng để tham gia đánh bạc cho cơ quan điều tra, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đối với bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2 tuy có nhân thân nhưng ngoài lần phạm tội này, các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú,. Đối với bị cáo N và bị cáo C2 tính từ ngày các bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính đến nay đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo N, bị cáo C2 đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo D quá trình điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo D có bố đẻ là Dương Hữu C và mẹ đẻ là Trần Thị S được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, và được UBND tỉnh P tặng bằng khen kháng chiến vì có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố bị cáo là thương binh 4/4, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo D được Uỷ ban mặt trận tổ quốc xác nhận tích cực ủng hộ cho hộ nghèo xóa nhà tạm, bị cáo C2 có bố đẻ là ông Dương Đình P được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất và mẹ đẻ là bà Lê Thị T2 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, Bị cáo N quá trình điều tra đã đến đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều tự nguyện giao nộp số tiền dùng để tham gia đánh bạc cho cơ quan điều tra nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Đối với các bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là chưa cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cùng gia đình theo quy định tại điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước...”. Song xét thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo nhưng các bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.

Đối với các bị cáo: Dậu, N1, Đ, C3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo N1 có bố đẻ là ông Dương Văn K1 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. bị cáo C3 có ông nội là liệt sỹ, bị cáo Đ có bố đẻ là thương binh 4/4. Các bị cáo đều tự nguyện giao nộp số tiền dùng để tham gia đánh bạc cho cơ quan điều tra nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét thấy: Các bị cáo D1, N1. Đoàn, C3 đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35Bộ luật hình sự là hình phạt tiền cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Tuy nhiên cần đánh giá vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng và số tiền mỗi bị cáo dùng đánh bạc để áp dụng mức án đối với từng bị cáo. Do vậy, đối với các bị cáo Q, bị cáo N1, bị cáo C3, bị cáo D và bị cáo Đ xem xét áp dụng mức án cao hơn các bị cáo N, D1 và C2 mới tương xứng với mức độ phạm tội đối với các bị cáo.

Đối với người đàn ông tên M2 và 02 người lái taxi chở các bị cáo đến địa điểm đánh bạc, quá trình điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ xong không xác định được thông tin, lai lịch cụ thể, nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm trong vụ án xét thấy là phù hợp.

Đối với Vi Đức L1 và Nguyễn Thị Thúy N2, quá trình điều tra xác định L1 và N2 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập trách nhiệm, mà nhắc nhở răn đe phòng ngừa chung là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 3, điều 321 của Bộ luật Hình sự các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Đối với các bị cáo D, Q có tài tài sản chung vợ chồng là ngôi nhà nhưng là ở sinh hoạt hàng ngày duy nhất của các bị cáo, bị cáo N ở cùng bố mẹ không có nhà đất tài sản gì có giá trị vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với các bị cáo D1, N1. Đoàn, C3 do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không phạt bổ sung.

[5] Về vật chứng và các tài sản đồ vật tạm giữ:

  • - Đối với số tiền 8.570.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc thu giữ trong quá trình điều tra cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước
  • - Đối với 01 (một) chiếc bát sứ; 01 chiếc đĩa sứ; 01 (một) mảnh bạt; 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 04 (hai) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo, được thu giữ trong quá trình phát hiện truy đuổi các bị cáo đánh bạc và giao nộp trong giai đoạn điều tra, nguồn gốc số đồ vật trên là đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của nhà bị cáo N, đối với quân bài tú lơ khơ bị cáo N đã mua từ lâu là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE, số IMEI: 355729078377939, lắp sim số 0389185665 là tài sản hợp pháp của bị cáo Dương Văn N1, dùng để liên lạc hàng ngày quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE, số IMEL: 353097100560266, lắp sim số 0384668734 là tài sản hợp pháp của bị cáo Hoàng Tân D1, dùng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone mặt sau màu hồng, màn bị vỡ không rõ hình, số IMEI: 35576807295360, lắp sim số 0369975235, đây là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn T5, sinh năm: 1974, thường trú tại khu C, xã H, thị xã P làm rơi trước đó một tuần. Anh T5 không liên quan đến hành vi đánh bạc trên cần trả lại cho anh T6 là phù hợp.
  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại SAMSUNG, số IMEL: 358475773533866, lắp sim số 0366275296 anh Vi Đức L1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 05/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại anh L1 là phù hợp cần xác nhận trong bản án.
  • - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA WAVE, màu đỏ, biển số: 19K8-9103 và 01 (một) chiếc xe mô tô có kiểu dáng giống xe HONDA DREAM, biển số: 19K1-324.94. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc xe mô tô trên đăng ký mang tên anh Trần Mạnh H4, sinh năm: 1980, thường trú khu M, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ và anh Hà Tiến H5, sinh năm: 2000, thường trú khu B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hai chiếc xe trên anh Trần Mạnh H4 và anh Hà Tiến H5 đã bán cho người không quen biết, do thời gian bán đã lâu, khi mua bán không viết tờ mua bán xe nên chưa xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp, quá trình điều tra xác định 02 chiếc xe mô tô trên không có trong hệ thống tra cứu dữ liệu vật chứng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P tách ra để tiếp tục xác minh truy tìm chủ sở hữu hợp pháp, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau xét thấy là phù hợp.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Trần Văn Q.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS đối với bị cáo Dương Việt D.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS đối với các bị cáo Dương Quang N, Dương Hữu C2.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS đối với các bị cáo Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3 phạm tội” Đánh bạc”,

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 10 ( mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/8/2024.

Xử phạt bị cáo Dương Việt D 15 ( mười lăm ) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Quang N 13 ( mười ba ) cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Hữu C2 12 (mười hai) cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/8 /2024 đến ngày 28/8/2024, 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ được quy đổi bằng 69 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 09 ( chín) tháng 21 (hai mươi mốt ) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo D, N, C2.

Xử phạt bị cáo H3 Tân Dậu 27.000.000đ ( Hai mươi bảy triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Dương Văn N1 25.000.000₫ ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Dương Văn Đ 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn C3 25.000000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3

- Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền: 8.570.000 đồng
  • - Trả lại : Bị cáo Dương Văn N1 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE, số IMEI: 355729078377939, lắp sim số 0389185665; bị cáo Hoàng Tân D1 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE, số IMEL: 353097100560266, lắp sim số 0384668734; anh Trần Văn T5 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone mặt sau màu hồng, màn bị vỡ không rõ hình, số IMEI: 35576807295360, lắp sim số 0369975235;
  • - Xác nhận ngày 05/9/2024, cơ quan điều tra công an thị xã P đã trả lại cho anh Vi Đức L1 (một) chiếc điện thoại SAMSUNG, số IMEL: 358475773533866, lắp sim số 0366275296 .
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc bát sứ; 01 chiếc đĩa sứ; 01 (một) mảnh bạt; 04 (bốn) quân bài tú lơ khơ; 04 (bốn) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Văn Q, Dương Việt D, Dương Quang N, Dương Hữu C2, Hoàng Tân D1, Dương Văn N1, Dương Văn Đ, Phạm Văn C3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm

Nơi gửi:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - Công an thị xã Phú Thọ;
  • - UBND xã Hà Lộc, xã Hà Thạch
  • TX. Phú Thọ, T. Phú Thọ;
  • - UBND phường Na Lay,
  • thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THADS;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS-VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger