Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 71/2024/HSST

Ngày 25 tháng 4 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khả

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Kiều Phan Ái Liên
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm K – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm và tuyên án công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 10/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn N;

    Sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: không; tạm trú: Không; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoàng M. Anh, chị, em: Có 02 người, bị cáo là con út trong gia đình; chưa có vợ con.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân:

    • Từ nhỏ sống cùng gia đình tại số A, Lô C, hẻm B đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Ngày 10/2/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4 đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 62/QĐ-TA do sử dụng trái phép chất ma túy. (Bút lục 332)
    • Ngày 04/3/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 1 đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 22 tháng theo Quyết định số 42/QĐ do sử dụng trái phép chất ma túy. (Bút lục 335)

    Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023.

  2. Dương Hoàng T;

    Sinh năm: 1984 tại Bạc Liêu; Hộ khẩu thường trú: Khóm D, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.; Chỗ ở: Nhà số B đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơme; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 0/12; con ông Dương P (đã chết) và bà Thạch Thị N1 (đã chết); Anh chị em có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Thạch Thị S và có 01 con sinh năm 2005.

    Tiền án: 01 tiền án.

    Ngày 18/5/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tuyên phạt 01 năm tù về tội “Đe dọa giết người” theo bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HSST. Ngày 18/10/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2021/HSST. Bị can chấp hành xong hình phạt tù (Cục V1 không lưu trữ Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù), chưa đóng án phí (chưa được xóa án tích). (Bút lụt 147, 289, 339)

    Tiền sự: Không

    Nhân thân:

    • Từ nhỏ đến nay 1994 sống cùng gia đình tại Khóm D, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
    • Từ năm 1994 đến nay, sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/4/2023.

  3. Ngô Nhật M1;

    Sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số C tổ C, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà số C tổ C, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Ngô Văn T1 và bà Nguyễn Thị X; Anh chị em có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Thùy T2; sinh năm: 1992; có 01 con sinh năm 2010.

    Tiền án: không.

    Tiền sự: 01 tiền sự.

    Ngày 23/9/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 12 ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 20 tháng kể từ ngày 25/6/2020 theo Quyết định số 780/QĐ-TA.

    Nhân thân:

    • Từ nhỏ sống cùng gia đình tại nhà số C tổ C, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Ngày 01/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 64/2013/HSST. Ngày 12/12/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2014 chấp hành xong hình phạt, đã đóng án phí ngày 12/6/2014 (Bút lục 290, 340).

    Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/4/2023.

Bị hại:

  1. Dương Đức V; sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn V, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
  2. Phạm Thị Ngọc H; sinh năm: 2004; địa chỉ: 5 ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Trần Đình Xuân T3; sinh năm: 2000; địa chỉ: Tổ H, Thôn C, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 07/4/2023, Dương Hoàng T đang ở tại phòng trọ tại địa chỉ số B B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Văn N (tên gọi khác là Minh Mã L) đi bộ đến nói với T đã mở được cổng nhà trọ tại địa chỉ A B, Phường A, quận B và rủ T cùng đi đến đó để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Thol đi theo N đến trước nhà trọ thì thấy cổng nhà trọ mở, N đi vào bên trong dắt trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69 của chị Phạm Thị Ngọc H ra phía trước nhà trọ, dùng đoản bẻ khóa xe xong nói T chạy về nhà trọ của T cất giấu, còn N chạy bộ theo sau. Sau khi T đem xe vào phòng trọ cất giấu, với cách thức tương tự, cả 02 tiếp tục quay lại nhà trọ số 1F/58 B, N vào bên trong, lần lượt dẫn xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 của anh Trần Đình Xuân T3 và xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 của anh Dương Đức V đem ra ngoài bẻ khóa để T chạy xe về phòng trọ của T cất giấu. Sau khi lấy trộm được 03 xe mô tô trên, N liên hệ bán 03 xe trên cho L1 (chưa rõ lai lịch). Sau đó, N nói T chạy xe Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 đến khu vực cầu T, Quận A để bán xe còn N dắt xe Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 giao cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch) vừa đến rồi N điều khiển xe Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69 chạy đi gặp L1.

Khoảng 01 giờ ngày 07/4/2023, Ngô Nhật M1 đang ở nhà thì L1 gọi điện thoại cho Nhật M1 nói là vừa mua được 03 xe mô tô là tài sản trộm cắp mà có nên nói Nhật M1 đến siêu thị C1 trên đường P, Quận A để hỗ trợ nhận xe và giúp L1 đi bán lại 03 xe trên, khi nào bán được xe thì L1 sẽ cho Nhật M1 tiền công mỗi xe là 200.000 đồng thì Nhật M1 đồng ý. L1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không rõ biển số) chở Nhật M1 đến cầu T gặp Nguyễn Văn N đang đứng chờ cùng xe mô tô Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69. L1 và M1 dẫn N đến trước chung cư A P để L1 đem xe vào bãi xe chung cư gửi. N nói L1 và Nhật M1 quay lại cầu T để gặp T và bạn của N để nhận 02 xe còn lại.

Khi T đi đến khu vực cầu T thì gặp lại nam thanh niên cùng xe Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 mà N đã giao trước đó, T cùng nam thanh niên này đứng đợi khoảng 10 phút thì L1 điều khiển xe Honda Wave màu đen (không rõ biển số) chở theo Ngô Nhật M1 đến. L1 dẫn T và nam thanh niên đến trước chung cư S P, phường T, Quận A. Lúc này, L1 bảo T và nam thanh niên đứng giữ xe Wave màu đen của L1, còn L1 chạy xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86, Nhật M1 chạy xe Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 đem vào bãi xe chung cư gửi. Sau khi L1 và Nhật M1 quay ra gặp T thì N đến nên L1 trả tiền mua 03 xe trên cho N là 4.000.000 đồng. Sau đó L1 bắt xe grab cho N, T và nam thanh niên đi về nhà. Thol được N chia cho số tiền 1.500.000 đồng từ tiền bán xe trộm cắp được.

Sau khi nhóm của T rời đi thì L1 đưa thẻ gửi xe của xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 cho Nhật M1 giữ rồi L1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen của L1 đi về, Nhật M1 đón xe ôm về lại nhà mình. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L1 điện thoại nói Nhật M1 đi thay ổ khóa của 02 xe trên thì M1 lấy xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 chạy đến tiệm sửa xe “Sơn Tay G” do Nguyễn S1 làm chủ tại địa chỉ nhà số G Đường A, Phường H, quận G để thay ổ khóa điện của xe. Nhật M1 để xe lại tại tiệm rồi đón xe ôm về lại nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nhật M1 quay lại tiệm lấy xe thì xe đã được thay ổ khóa xong. L1 điện thoại cho Nhật M1 nói mang xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 ra đường T, quận G gặp L1. Tại đây L1 và Nhật M1 tráo đổi biển số xe Yamaha Exciter màu xanh trắng qua xe Honda Future màu đỏ đen với nhau. Sau đó, Nhật M1 điều khiển xe Exciter màu xanh trắng về gửi lại trong chung cư 102 Phan Văn H1 và lấy xe Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 84E1-106.17 tiếp tục đem đến tiệm sửa xe của Nguyễn S1 để thay ổ khóa và để lại xe ở đây rồi đón xe ôm quay lại đường T gặp L1. Tại đây L1 giao xe Honda Future màu đỏ đã tráo biển số 92F1-097.86 cho Nhật M1 và nói Nhật M1 chạy xe này đến trước nhà số G đường T, Phường A, quận G giao cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Sau khi giao xe xong, Nhật M1 quay lại bãi xe chung cư A P thì bị Công an quận B mời về làm việc và thu giữ xe Exciter màu xanh bị tráo biển số 62K1-151.69 trong bãi xe chung cư. L1 chưa trả tiền công cho Nhật M1.

Sau khi phát hiện bị mất xe, anh Dương Đức V, chị Phạm Thị Ngọc H và anh Trần Đình Xuân T3 đến Công an P1, quận B trình báo.

Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Văn N, Dương Hoàng TNgô Nhật M1 là các đối tượng có liên quan đến việc trộm cắp xe 03 xe mô tô nêu trên nên đã mời N, T, M1 về làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N, Dương Hoàng TNgô Nhật M1 đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. (Bút lục 127-177, 303 - 310).

Kết luận định giá tài sản số 80 ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, kết luận (Bút lục: 56):

  • 01 xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Exciter, biển số 92F1-097.86 trị giá 12.000.000 đồng.
  • 01 xe mô tô hai bánh hiệu Honda Future FI, biển số 62K1-151.69 trị giá 10.000.000 đồng
  • 01 xe mô tô hai bánh Honda Wave RSX, biển số 84E1-106.17 trị giá 6.000.000 đồng

Vật chứng: (Bút lục 54, 111, 115, 117, 164, 165, 202)

  • 01 USB chứa nội dung ghi hình Dương Hoàng TNguyễn Văn N trộm cắp tài sản.
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, số khung RLCE55P10CY190410, số máy 55P1190420. Tại Kết luận giám định số 2956/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: số khung số máy không thay đổi (Bút lục 53). Kết quả xác minh, xe trên do anh Dương Đức V đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho anh V (Bút lục 50, 58, 101, 104).
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69, số khung RLHJC5382EY000925, số máy JC54E2001491. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được xe trên. Kết quả xác minh xe trên do anh Phạm Văn T4 đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng tháng 3/2023, anh T4 có cho chị Phạm Thị Ngọc H (cháu anh T4) mượn sử dụng cho đến ngày bị mất trộm (Bút lục 51).
  • 01 biển số 62K1-151.69. Cơ quan điều tra đã trả lại biển số xe trên cho chị H.
  • 01 xe mô tô Honda Wave RXS, biển số 84E1-106.17, số khung RLHJC5229CY784093, số máy JC52E5325896. Kết luận giám định số 2957/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: số khung số máy không thay đổi (Bút lục 52). Kết quả xác minh, xe trên do ông Dương Văn M2 đứng tên chủ sở hữu, năm 2013, ông M2 đã cầm xe trên cùng toàn bộ giấy tờ xe cho tiệm cầm đồ (không nhớ tên, địa chỉ) nên ông không còn là chủ sở hữu xe trên. Anh Trần Đình Xuân T3 mua lại xe trên của ông Lê Văn L2 là chủ tiệm C2 (có giấy bán xe) để sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho anh T3 (Bút lục 42, 83-85, 88, 93).

- Thu giữ của Dương Hoàng T:

  • Số tiền 1.500.000 đồng. Đây là tiền Nguyễn Văn N đưa lại cho T từ tiền bán xe trộm cắp được.
  • 01 nón lưỡi trai màu đen, phía trước có chữ RMIT UNIVERSITY màu trắng, 01 đôi dép lê bằng nhựa màu trắng, có quai sọc màu đen, 01 quần soọc Jean màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ ELECTRIC Run màu trắng, họa tiết hình tròn màu trắng, bên trong hình tròn có họa tiết màu xanh; 01 đôi dép lê màu đen có chữ STEP FIRMLY.

- Thu giữ của Ngô Nhật M1:

  • 03 chìa khóa xe các loại;
  • 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 05cm;
  • 01 điện thoại OPPO Reno 6 màu đen, số Imei: 86467052503458.
  • 01 điện thoại Nokia có số seri: 356339059306607;

- Thu giữ của Nguyễn S1: 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ, có số Imei: 353972106014213. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho S1 (Bút lục 42).

Trách nhiệm dân sự:

Anh Dương Đức V và anh Trần Đình Xuân T3 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì khác. (Bút lục 75, 94)

Chị Phạm Thị Ngọc H yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, các bị can chưa bồi thường. (Bút lục 104).

Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSBTh ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định Khoản 1, Điều 173 và bị cáo Ngô Nhật M1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định Khoản 1, Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo như sau:

  • Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù giam;
  • Dương Hoàng T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam;
  • Ngô Nhật M1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của người bị hại và nhân chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thu thập và bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy trình, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó những chứng cứ tài liệu trong vụ án đều hợp pháp

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Tại cơ quan điều tra cũng như thẩm tra xét hỏi tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo Nguyễn Văn N, Dương Hoàng TNgô Nhật M1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy:

Vào khoảng 00 giờ ngày 07/4/2023, Dương Hoàng T đang ở tại phòng trọ tại địa chỉ số B B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Văn N (tên gọi khác là Minh Mã L) đi bộ đến nói với T đã mở được cổng nhà trọ tại địa chỉ A B, Phường A, quận B và rủ T cùng đi đến đó để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Thol đi theo N đến trước nhà trọ thì thấy cổng nhà trọ mở, N đi vào bên trong dắt trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69 của bị hại là chị Phạm Thị Ngọc H ra phía trước nhà trọ, dùng đoản bẻ khóa xe xong nói T chạy về nhà trọ của T cất giấu, còn N chạy bộ theo sau. Sau khi T đem xe vào phòng trọ cất giấu, với cách thức tương tự, cả 02 tiếp tục quay lại nhà trọ số 1F/58 B, N vào bên trong, lần lượt dẫn xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 của bị hại Trần Đình Xuân T3 và xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 của bị hại Dương Đức V đem ra ngoài bẻ khóa để T chạy xe về phòng trọ của T cất giấu. Khoảng 01 giờ ngày 07/4/2023, Ngô Nhật M1 đang ở nhà thì L1 gọi điện thoại cho Nhật M1 nói là vừa mua được 03 xe mô tô là tài sản trộm cắp mà có nên nói Nhật M1 đến siêu thị C1 trên đường P, Quận A để hỗ trợ nhận xe và giúp L1 đi bán lại 03 xe trên, khi nào bán được xe thì L1 sẽ cho Nhật M1 tiền công mỗi xe là 200.000 đồng thì Nhật M1 đồng ý.

Tổng giá trị tài sản N và T đã trộm cắp là 28.000.000 đồng.

Đối với Ngô Nhật M1, khi L1 nhờ M1 đi hỗ trợ nhận 03 xe trên từ N và T thì có nói cho M1 nghe nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có và hứa hẹn khi nào bán được xe thì L1 sẽ cho M1 tiền công mỗi xe là 200.000 đồng thì M1 vẫn đồng ý giúp sức cho L1. M1 đã giúp cho L1 đi giao xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69 cho một người không rõ lai lịch nhưng chưa nhận được tiền công của L1 thì bị phát hiện.

Đối với Nguyễn S1 có hành vi thay 02 ổ khóa xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ, biển số 84E1-106.17 và xe Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 92F1-097.86 thì Nhật M1 không có nói cho S1 biết nguồn gốc xe là do trộm cắp mà có. Do đó, không có cơ sở xử lý S1 về hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[2.2] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Đây là lỗi cố ý của bị cáo.

Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Nguyễn Văn N, Dương Hoàng T, Ngô Nhật M1 là người có đủ tuổi trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét, hành vi của Bị cáo Ngô Nhật M1 là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản các bị cáo đem bán là do phạm tội mà có, tuy không hứa hẹn trước nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Đây là lỗi cố ý của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo Ngô Nhật M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xét cả 3 bị cáo nhân thân xấu, phạm tội 02 lần trở lên.

Do đó, Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội danh và khung hình phạt.

Đối với đối tượng tên L1 (chưa rõ lai lịch) Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

+Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:

- Về trách nhiệm dân sự:

Anh Dương Đức V và anh Trần Đình Xuân T3 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì khác. (Bút lục 75, 94). Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Phạm Thị Ngọc H tại phiên toà, đồng ý kết quả định giá, yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường, mỗi bị cáo bồi thường 5.000.000đ (năm triệu đồng chẵn). Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Vật chứng:

  • 01 USB chứa nội dung ghi hình Dương Hoàng TNguyễn Văn N trộm cắp tài sản. Xét đây là chứng cứ chứng minh các bị cáo phạm tội nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, số khung RLCE55P10CY190410, số máy 55P1190420. Tại Kết luận giám định số 2956/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: số khung số máy không thay đổi (Bút lục 53). Kết quả xác minh, xe trên do anh Dương Đức V đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho anh V. Xét phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ, biển số 62K1-151.69, số khung RLHJC5382EY000925, số máy JC54E2001491. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được xe trên. Kết quả xác minh xe trên do anh Phạm Văn T4 đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng tháng 3/2023, anh T4 có cho chị Phạm Thị Ngọc H (cháu anh T4) mượn sử dụng cho đến ngày bị mất trộm. Hội đồng xét xử xét thấy khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.
  • 01 biển số 62K1-151.69. Cơ quan điều tra đã trả lại biển số xe trên cho chị H. Xét phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • 01 xe mô tô Honda Wave RXS, biển số 84E1-106.17, số khung RLHJC5229CY784093, số máy JC52E5325896. Kết luận giám định số 2957/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: số khung số máy không thay đổi. Kết quả xác minh, xe trên do ông Dương Văn M2 đứng tên chủ sở hữu, năm 2013, ông M2 đã cầm xe trên cùng toàn bộ giấy tờ xe cho tiệm cầm đồ (không nhớ tên, địa chỉ) nên ông không còn là chủ sở hữu xe trên. Anh Trần Đình Xuân T3 mua lại xe trên của ông Lê Văn L2 là chủ tiệm C2 (có giấy bán xe) để sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho anh T3. Xét phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Thu giữ của Dương Hoàng T:

  • Số tiền 1.500.000 đồng. Đây là tiền Nguyễn Văn N đưa lại cho T từ tiền bán xe trộm cắp được. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu để đảm bảo việc thi hành án.
  • 01 nón lưỡi trai màu đen, phía trước có chữ RMIT UNIVERSITY màu trắng, 01 đôi dép lê bằng nhựa màu trắng, có quai sọc màu đen, 01 quần soọc Jean màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ ELECTRIC Run màu trắng, họa tiết hình tròn màu trắng, bên trong hình tròn có họa tiết màu xanh; 01 đôi dép lê màu đen có chữ STEP FIRMLY. Xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Thu giữ của Ngô Nhật M1:

  • 03 chìa khóa xe các loại. Xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 05cm. Xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại OPPO Reno 6 màu đen, số Imei: 86467052503458. Xét không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
  • 01 điện thoại Nokia có số seri: 356339059306607. Xét liên quan đến vụ án nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Thu giữ của Nguyễn S1: 01 điện thoại Iphone 11 màu đỏ, có số Imei: 353972106014213. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho S1 (Bút lục 42). Xét phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: các bị cáo Nguyễn Văn N, Dương Hoàng TNgô Nhật M1 phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm g khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023

    Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Dương Hoàng T 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023

    Bị cáo Ngô Nhật M1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

    Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Ngô Nhật M1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023

    Buộc 2 bị cáo T và N liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 10.000.000đ (năm triệu đồng chẵn). Mỗi bị cáo trả 5.000.000đ (năm triệu đồng chẵn)

  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    + Tịch thu tiêu huỷ:

    • 01 nón lưỡi trai màu đen, phía trước có chữ RMIT UNIVERSITY màu trắng, 01 đôi dép lê bằng nhựa màu trắng, có quai sọc màu đen, 01 quần soọc Jean màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ ELECTRIC Run màu trắng, họa tiết hình tròn màu trắng, bên trong hình tròn có họa tiết màu xanh; 01 đôi dép lê màu đen có chữ STEP FIRMLY.
    • 03 chìa khóa xe các loại.
    • 01 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 05cm.

    + Tịch thu lưu hồ sơ vụ án

    • 01 USB chứa nội dung ghi hình Dương Hoàng TNguyễn Văn N2 trộm cắp tài sản

    + Trả lại cho bị cáo Ngô Nhật M1:

    • 01 điện thoại OPPO Reno 6 màu đen, số Imei: 86467052503458

    + Tịch thu sung công quỹ nhà nước

    • Tiền bán xe là 4.000.00₫ (Bốn triệu đồng chẵn) Nguyễn Văn N chia cho Thol 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Buộc bị cáo N phải nộp 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
    • 01 điện thoại N3 có số seri: 356339059306607

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 của các bị cáo giữa công an quận B và Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh)

  3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Dương Hoàng TNgô Nhật M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Văn NDương Hoàng T mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị cáo; người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND q.Bình Thạnh;
  • - Nhà tạm giữ - CA q.Bình Thạnh;
  • - Chi cục THA q.Bình Thạnh;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - PC.54 Công an Tp.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Công Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger