|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 25/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng và ông Phạm Đức Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mừng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nhữ Văn Hùng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Thị N
sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn V và bà Nguyễn Thị N1; chồng: Nguyễn Văn D; con: có 03 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014).
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2024 đến ngày 09/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đỗ Thị Phương M, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có khó khăn về tài chính nên ngày 14/5/2024, chị Đỗ Thị Phương M, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam đã liên lạc qua Zalo với Hà Thị N sinh năm 1982, trú tại thôn P, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam là bạn làm cùng tại Công ty TNHH H thuộc khu công nghiệp Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam để hỏi vay 100.000.000 đồng. N và chị M thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 109,5%/năm, đồng thời chị M phải viết giấy vay nợ số tiền trên. Sau đó, N đã sử dụng tài khoản ngân hàng MSB số 0988420981 của mình chuyển 100.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số 0901000020088 của chị M. Do N yêu cầu trả trước tiền lãi 01 tháng tính từ ngày 14/5/2024 đến ngày 14/6/2024 nên chị M đã sử dụng tài khoản V1 số 0901000020088 chuyển 9.000.000 đồng cho N. Ngày hôm sau, khi đi làm chị M đã chuyển giấy vay nợ cho N giữ. Đến ngày 12/6/2024, chị M tiếp tục sử dụng tài khoản V1 số 0901000020088 của mình chuyển 9.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 13/6/2024 đến ngày 13/7/2024 vào tài khoản ngân hàng MSB số 0988420981 cho N.
Ngày 18/6/2024, chị M tiếp tục hỏi vay và được N đồng ý cho vay thêm 100.000.000 đồng với lãi suất cho vay là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày. Ngày 19/6/2024, khi đang ở khu công nghiệp Đ, phường D, thị xã D, N đã sử dụng tài khoản ngân hàng MSB số 0988420981 của mình chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 số 0901000020088 của chị M. Do N cũng yêu cầu trả trước tiền lãi 01 tháng tính từ ngày 19/6/2024 đến ngày 19/7/2024 nên chị M đã sử dụng tài khoản V1 số 0901000020088 chuyển 9.000.000 đồng cho N. Đồng thời chị M viết thêm khoản vay trên vào giấy vay tiền cũ do N giữ.
Ngày 11/7/2024, N và chị M thống nhất gộp hai khoản vay nói trên để trả lãi cùng, thời hạn trả gốc là ngày 19/8/2024, đồng thời N yêu cầu chị M thanh toán 1.800.000 đồng tiền lãi từ ngày 13/7/2024 đến ngày 19/7/2024 của khoản vay 100.000.000 đồng ngày 14/5/2024. Ngày 13/7/2024, chị M đã sử dụng tài khoản V1 số 0901000020088 chuyển 1.800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng MSB số 0988420981 cho N. Đến ngày 19/7/2024, N yêu cầu chị M thanh toán 18.000.000 đồng tiền lãi và viết lại giấy vay với tổng số tiền 200.000.000 đồng, đồng thời N huỷ giấy vay tiền trước đó đi. Chị M đã sử dụng tài khoản V1 số 0901000020088 chuyển 18.000.000 đồng tiền lãi trong 30 ngày vào tài khoản ngân hàng M3 số 0988420981 cho N.
Tổng cộng Hà Thị N đã nhận được 46.800.000 đồng tiền lãi cho các khoản vay nêu trên từ chị Đỗ Thị Phương M gồm: 19.800.000 đồng tiền lãi từ 14/5/2024 đến 19/7/2024 của khoản vay 100.000.000 đồng ngày 14/5/2024; 9.000.000 đồng tiền lãi từ 19/6/2024 đến 19/7/2024 của khoản vay 100.000.000 đồng ngày 19/6/2024 và 18.000.000 đồng tiền lãi từ 19/7/2024 đến 19/8/2024 của cả hai khoản vay.
Số tiền lãi suất N được hưởng theo quy định của pháp luật trong 66 ngày đối với khoản vay 100.000.000 đồng ngày 14/5/2024 là: 20% của 100.000.000 đồng là 3.616.438 đồng. Số tiền N thu lợi bất chính đối với khoản vay ngày 14/5/2024 là: 19.800.000 đồng - 3.616.438 đồng = 16.183.562 đồng.
Số tiền lãi suất N được hưởng theo quy định của pháp luật trong 30 ngày đối với khoản vay 100.000.000 đồng ngày 19/6/2024 là 20% của 100.000.000 đồng là 1.643.835 đồng. Số tiền N thu lợi bất chính đối với khoản vay ngày 19/6/2024 là: 9.000.000 đồng - 1.643.835 đồng = 7.356.165 đồng.
Số tiền lãi suất N được hưởng theo quy định của pháp luật trong 30 ngày sau khi gộp hai khoản vay ngày 19/7/2024 là: 20% của 200.000.000 đồng là 3.287.671 đồng. Số tiền N thu lợi bất chính sau khi gộp hai khoản vay là: 18.000.000 đồng - 3.287.671 đồng = 14.712.329 đồng.
Tổng số tiền N thu lợi bất chính khi cho chị Đỗ Thị Phương M vay tiền là 16.183.562 đồng + 7.356.165 đồng + 14.712.329 đồng = 38.252.056 đồng.
Qua công tác nắm tình hình trên địa bàn, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã triệu tập Hà Thị N và chị Đỗ Thị Phương M để đấu tranh. Tại Cơ quan điều tra, N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan gồm: Hà Thị N tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, bên trong lắp 01 sim Viettel; 01 giấy vay tiền đề ngày 19/7/2024 phần người vay tiền có chữ ký và dòng ghi họ tên Đỗ Thị Phương M; số tiền lãi 46.800.000 đồng mà N đã nhận từ Đỗ Thị Phương M. Chị Đỗ Thị Phương M tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu tím bên trong lắp 01 sim V2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã khai thác dữ liệu điện tử trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 của N và điện thoại Iphone 14 Promax của chị M, kết quả xác định cả 02 điện thoại nói trên có tin nhắn với nội dung cả hai trao đổi về việc vay tiền gốc và thanh toán tiền lãi.
Kết quả tra soát sao kê do các ngân hàng V1, M3 cung cấp xác định các giao dịch chuyển tiền giữa tài khoản của N và tài khoản chị M phù hợp với lời khai và dữ liệu điện tử trên những máy điện thoại đã khai thác.
Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím bên trong lắp 01 sim V2 là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị Phương M nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc điện thoại trên cho chị M.
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-P1, ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Hà Thị N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Thị N từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại đã qua sử dụng của Hà Thị N. Truy thu của chị Đỗ Thị Phương M số tiền 200.000.000 đồng, chị M1 vay của bị cáo chưa trả để sung quỹ Nhà nước. Tịch thu của Hà Thị N số tiền lãi 8.547.944 đồng để sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho chị Đỗ Thị Phương M số tiền 38.252.056 đồng, được đối trừ số tiền bị cáo đã nộp trả nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như nội dung cáo trạng đã nêu đồng thời ăn năn, hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản vụ việc, dữ liệu điện tử và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Với mục đích cho vay tiền lãi suất cao để thu lợi bất chính, ngày 14/5/2024 tại thôn P, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Hà Thị N đã cho chị Đỗ Thị Phương M vay số tiền 100.000.000₫ với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đến ngày 19/6/2024 tại khu công nghiệp Đ, phường D, thị xã D, N tiếp tục cho chị M vay thêm số tiền 100.000.000đ với mức lãi suất như trên. Tổng số tiền lãi N đã nhận của chị M là 46.800.000đ, trong đó số tiền N đã thu lợi bất chính do tính lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật là 38.252.056 đồng.
Với hành vi trên, bị cáo Hà Thị N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền lãi đã thu của chị Đỗ Thị Phương M là 46.800.000đ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, qua đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người vay, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân; vì vậy cần phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội vì mục đích tư lợi nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xử lý .
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh thu giữ của Hà Thị N.
- - Truy thu, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền gốc 200.000.000 đồng Hà Thị N cho chị Đỗ Thị Phương M vay (chưa trả), do đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền lãi 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của chị Đỗ Thị Phương M2:8.547.944 đồng, do xác định đây là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội.
- - Buộc bị cáo trả lại cho chị Đỗ Thị Phương M số tiền 38.252.056 đồng, do xác định đây là số tiền lãi vượt mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự; được đối trừ số tiền 46.800.000₫ bị cáo đã nộp nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị N2 tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo: Hà Thị N số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Truy thu của chị Đỗ Thị Phương M số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, số IMEI 1: 358334901468885, IMEI 2: 359755831468885, lắp sim V2, tình trạng máy đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
- - Buộc bị cáo Hà Thị N3 nộp số tiền lãi 8.547.944 đồng (Tám triệu năm trăm bốn mươi bẩy nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng) để sung quỹ Nhà nước. Trả lại cho chị Đỗ Thị Phương M số tiền 38.252.056 đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm năm hai nghìn không trăm năm sáu đồng); được đối trừ số tiền 46.800.000₫ (Bốn mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng) bị cáo đã nộp (Theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản số 4363, lập ngày 30/10/2024 giữa Công an tỉnh H với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Hà Thị N3 chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Thị Thanh Tâm |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Với mục đích cho vay tiền lãi suất cao để thu lợi bất chính, ngày 14/5/2024 tại thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Hà Thị Nga đã cho chị Đỗ Thị Phương Mai vay số tiền 100.000.000đ với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đến ngày 19/6/2024 tại khu công nghiệp Đồng Văn II, phường Duy Minh, thị xã Duy Tiên, Nga tiếp tục cho chị Mai vay thêm số tiền 100.000.000đ với mức lãi suất như trên. Tổng số tiền lãi Nga đã nhận của chị Mai là 46.800.000đ, trong đó số tiền Nga đã thu lợi bất chính do tính lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật là 38.252.056 đồng.
