TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 25-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Luyện Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Công
Ông Dư Công Thử
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Tiến - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST - HS ngày 28/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST- HS ngày 11/11/2024 đối với bị cáo.
Si Mi Ô, sinh năm 2000, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Cill; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ha R, sinh năm 1972 và bà Ka H, sinh năm 1976, nơi cư trú: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Vợ, con: chưa có; Anh em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2016/HSST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976;
Địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông Ha Đ, sinh năm 1992;
Địa chỉ: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Minh D, sinh năm 1973;
Địa chỉ: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông Ha K, sinh năm 1990;
Địa chỉ: thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973;
Địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/7/2024, sau khi ngồi nhậu tại nhà ông Nguyễn Đình B, tại thôn V, xã Đ, huyện Đ, Si Mi Ô đi bộ về hướng thôn Y, xã Đ, huyện Đ. Khi đi bộ ngang qua nhà bà Nguyễn Thị L tại thôn X, xã Đ, huyện Đ thấy bên trong sân nhà dựng 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2-6273 có cắm sẵn chìa khoá trên xe và không có người trông coi. Si Mi Ô nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, Si Mi Ô đi vào sân lên xe, nổ máy rồi điều khiển chạy ra hướng Quốc lộ 27. Lúc này, bà L trong nhà phát hiện có người lấy trộm xe mô tô của mình nên đã gọi điện thoại nhờ người dân ở khu vực ngã ba đầu đường ra chặn lại. Khi Si Mi Ô vừa chạy xe đến ngã ba giao nhau với đường Quốc lộ 27 thì bị ông Nguyễn Văn Th phát hiện chặn đầu xe và truy hô người dân giữ Si Mi Ô lại và trình báo cơ quan Công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL- HĐĐGTS ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương kết luận xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2-6273 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 5.500.000đ.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra Si Mi Ô tự nguyện khai nhận còn thực hiện thêm 01 vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 25/7/2024, Si Mi Ô đang đi bộ về nhà, khi đi ngang qua cánh đồng thuộc thôn Suối Thông A2, xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1-029.24 của ông Ha Đ dựng bên cạnh đường bê tông không có người trông coi nên Si Mi Ô đi đến lấy trộm chiếc xe và nổ máy rồi điều khiển xe về nhà mình tại thôn S, xã Đ, huyện Đ để cất giấu. Đến sáng ngày 26/7/2024, Si Mi Ô cùng Ha K đi bán chiếc xe mô tô này tại tiệm sửa xe của ông Ngô Văn Dũng với giá 1.000.000đ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 48/KL- HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương kết luận xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1 - 029.24 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 2.000.000đ.
Về việc thu giữ, tạm giữ, xử lý đồ vật, tài liệu: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương thu giữ, tạm giữ và xử lý đồ vật sau:
- - Thu giữ của bị cáo Si Mi Ô 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2- 6273, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ; 01 quần sooc Jean màu xám; 01 mũ lưỡi chai, hoạ tiết rằn ri, chất liệu vải; 01 đôi dép xỏ ngón bằng cao su. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2- 6273 cho bị hại bà Nguyễn Thị L. Sau khi nhận lại tài sản, bà Liên không có yêu cầu gì thêm. Đối với tài sản như áo khoác, quần sooc, mũ lưỡi chai, đôi dép không liên quan đến hành vi phạm tội và bị cáo không có yêu cầu nhận lại.
- - Thu giữ của ông Ngô Minh D 01 xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1-029.24. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại ông Ha Đ. Sau khi nhận lại tài sản, ông Ha Đ không có yêu cầu gì thêm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Si Mi Ô đã bồi thường cho ông Ngô Minh D số tiền 1.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 74/CT- VKSĐD ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Si Mi Ô về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa, bị cáo Si Mi Ô khai nhận: Chiều ngày 27/7/2024, sau khi nhậu tại nhà ông Ngô Đình Bảo ở thôn V, xã Đ, huyện Đ thì đi bộ ngang qua nhà bà Nguyễn Thị L thấy trong sân có 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2- 6273 không người trông coi nên lẻn vào lấy trộm xe nổ máy chạy ra hướng Quốc lộ 27, khi đến ngã ba giao nhau với đường Quốc lộ 27 thì bị người dân phát hiện giữ lại và trình báo cơ quan Công an. Ngoài ra, trưa ngày 25/7/2024, bị cáo có lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Li Fan màu nâu, biển số 49S1-029.24 của ông Ha Đ dựng bên cạnh đường bê tông tại thôn S, xã Đ, huyện Đ rồi chạy xe về nhà cất giấu. Sáng ngày 26/7/2024, bị cáo cùng với Ha K đi bán chiếc xe này cho ông Ngô Minh D lấy 1.000.000đ tiêu xài. Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 1.000.000đ cho ông D. Bị cáo thống nhất và không có ý kiến thắc mắc gì về kết luận định giá tài sản, cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố và luận tội như sau: Tại phiên tòa, bị cáo Si Mi Ô khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, các chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra; hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Si Mi Ô phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử phạt: Si Mi Ô từ 12 - 15 tháng tù.
Về việc thu giữ, tạm giữ, xử lý đồ vật, tài liệu:
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương thu giữ, tạm giữ và xử lý đồ vật sau:
- - Thu giữ của bị cáo Si Mi Ô 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2- 6273, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ; 01 quần sooc Jean màu xám; 01 mũ lưỡi chai, hoạ tiết rằn ri, chất liệu vải; 01 đôi dép xỏ ngón bằng cao su. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2- 6273 cho bị hại bà Nguyễn Thị L. Sau khi nhận lại tài sản, bà L không có yêu cầu gì thêm. Đối với tài sản như áo khoác, quần sooc, mũ lưỡi chai, đôi dép không liên quan đến hành vi phạm tội và bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Xét thấy giá trị không lớn nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
- - Thu giữ của ông Ngô Minh D 01 xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1-029.24. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại ông Ha Đ. Sau khi nhận lại tài sản, ông Ha Đ không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Si Mi Ô đã bồi thường cho ông Ngô Minh D số tiền 1.000.000đ, ông Dũng không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Si Mi Ô khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở kết luận:
Chiều ngày 27/7/2024, khi đi bộ ngang qua nhà bà Nguyễn Thị L ở thôn X, xã Đ, huyện Đ thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2-6273 dựng trong sân không người trông coi nên lẻn vào lấy trộm xe chạy ra Quốc lộ 27 thì bị người dân phát hiện giữ lại. Ngoài ra, trưa ngày 25/7/2024, bị cáo lấy trộm 01 xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1 - 029.24 của ông Ha Đ dựng bên cạnh đường bê tông tại thôn S, xã Đ, huyện Đ rồi chạy xe về nhà cất giấu. Sáng ngày 26/7/2024, bị cáo cùng với Ha K đi bán chiếc xe này cho ông Ngô Văn D lấy 1.000.000đ tiêu xài. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương xác định giá trị tài sản bị cáo trộm cắp xe mô tô biển số 49V2-6273 là 5.500.000đ, xe mô tô biển số 49S1-029.24 là 2.000.000đ, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 7.500.000đ.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nghị kỵ lẫn nhau trong nội bộ quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó thể hiện sự táo bạo, xem thường pháp luật, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.500.000đ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, chủ động khai báo và tự thú về hành vi phạm tội ngày 25/7/2024, đã bồi thường số tiền bán xe biển số 49S1-029.24 cho ông Ngô Minh D nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, về nhân thân năm 2016 đã bị Toà án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi bị cáo gây ra, nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Đối với hành vi của ông Ha K được Si Mi Ô rủ đi bán xe mô tô trộm cắp của ông Ha Đ cũng như hành vi của ông Ngô Minh D mua xe mô tô do Si Mi Ô đưa đến bán nhưng ông Ha K, ông Ngô Minh D không biết xe mô tô này do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2-6273, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ; 01 quần sooc Jean màu xám; 01 mũ lưỡi chai, hoạ tiết rằn ri, chất liệu vải; 01 đôi dép xỏ ngón bằng cao su. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh, biển số 49V2-6273 cho bị hại bà Nguyễn Thị L. Sau khi nhận lại tài sản, bà Liên không có yêu cầu gì thêm. Đối với tài sản như áo khoác, quần sooc, mũ lưỡi chai, đôi dép không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và giá trị không lớn nên tịch thu tiêu huỷ. Thu giữ của ông Ngô Minh D 01 xe mô tô hiệu LiFan màu nâu, biển số 49S1-029.24. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại ông Ha Đ. Sau khi nhận lại tài sản, ông Ha Đ không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Si Mi Ô đã bồi thường cho ông Ngô Minh D 1.000.000đ tiền mua xe biển số 49S1-29.24, ông Dũng không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Si Mi Ô phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Si Mi Ô 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. - Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác vải màu đen, có mũ; 01 quần sooc Jean màu xám; 01 mũ lưỡi chai, hoạ tiết rằn ri, chất liệu vải; 01 đôi dép xỏ ngón bằng cao su. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Công an huyện Đơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương). - Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Luyện Thanh Sơn |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Si Mi Ô. Trộm cắp tài sản
