Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 10 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nghi và bà Trần Thị Lệ Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1989 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị N1 (đã chết). Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D (đã ly hôn) và có hai con sinh năm 2011

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 01/7/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm T, xã V, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn L. Những người chứng kiến vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý sáng ngày 29/6/2024, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô mô tô Honda Wave BKS 17M2-6918 từ nơi ở của mình đến khu vực nghĩa trang Đ, xã Đ, huyện K để tìm mua Heroine. Tại đây, C gặp, hỏi và mua được 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng giấy nilon màu xám với giá 300.000đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, C bỏ gói nhỏ vào túi áo ngực bên trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Hồi 10 giờ 35 phút cùng ngày, khi C về đến khu vực đê sông C, thuộc xóm A, xã K, huyện K, C dừng xe định lấy gói ma túy ra kiểm tra thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng K1 phát hiện bắt quả tang. Thu trên tay trái C 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy nilon màu xám có KT (1,5 x 1,5)cm và 01 xe mô tô Honda Wave BKS 17M2-6918.

Kiểm tra gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn C bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định khối lượng là 0,34 g được kí hiệu M gửi trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 579/KL-KTHS-MT ngày 30/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3131 gam, là ma túy, loại Heroine”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 72/CT-VKS - KS ngày 30/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 (mười tám) đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 29/6/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: một phong bì niêm phong ghi số 579/ KL - KTHS – MT. Bên trong có toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,2352 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh ni lông màu xám, 01 mảnh giấy có chữ màu đen, 01 mảnh giấy bạc màu trắng

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai tại phiên toà của bị cáo Nguyễn Văn C như nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản về việc thu giữ và niêm phong vật chứng lập hồi 10 giờ 40 phút ngày 29 tháng 06 năm 2024; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 29 tháng 06 năm 2024 và phù hợp kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 35 phút ngày 29/6/2024, tại khu vực đê sông C, thuộc xóm A, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn C có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,3131 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Heroin là chất ma túy thuộc bảng danh mục IA, số thứ tự 9 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.

[2] Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, trong đó có chất ma túy. Mặt khác hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ ma túy là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và mua bán nhưng vì nhu cầu sử dụng cho bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cai nghiện, học tập thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân, nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo C khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực nghĩa trang Đ thuộc xã Đ, huyện K. Bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ người đàn ông này, nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đủ căn cứ để xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã trả xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ- đen BKS 17M2-6918 thu giữ của C cho chị Vũ Thị T, chị T là chủ sở hữu hợp pháp của xe, chị T không biết C mượn xe để đi mua ma túy. Việc Cơ quan CSĐT đã trả xe mô tô cho chị T đã đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Những vật chứng còn lại của vụ án căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý như sau:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,2352 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 579/ KL – KTHS – MT cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh ni lông màu xám, 01 mảnh giấy có chữ màu đen, 01 mảnh giấy bạc màu trắng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 29 tháng 06 năm 2024.

2.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,2352 gam là ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 579/ KL – KTHS – MT; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh ni lông màu xám, 01 mảnh giấy có chữ màu đen, 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/10/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản

- VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản.

- VKSND huyện K: 02 bản

- Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình.

-. Cơ quan Điều tra CA huyện K : 01 bản

Cơ quan THA hình sự CA huyện K : 01 bản.

- Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình: 01 bản.

Chi cục THA dân sự huyện K: 01 bản

- Bị cáo: 01 bản.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Lưu hồ sơ: 01 bản.

- Lưu VP: 02 bản.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trần Thị Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán MT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger