|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 24 - 10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Lê Thiện Đào Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cam Quang T (Tên gọi khác: T1), sinh năm 1996 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: B, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Cam Quang Đ, sinh năm 1969 và bà Phan Ngọc V, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Không. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xử phạt Cam Quang T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2023. Thi hành xong phần án phí ngày 10/11/2023. Chưa được xóa án tích; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt Cam Quang T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án đã có hiệu lực pháp luật; Tiền sự: Chưa có; Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam: Ngày 30/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Bà Thạch Thị Sa R, sinh năm 1963.
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1962.
- Ông Phạm Minh N, sinh năm 1968.
Nơi cư trú: Số C, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C, L, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Thanh T2, sinh năm 2005.
- Ông Cam Quang Đ, sinh năm 1969.
Nơi cư trú: Số A, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số B, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ (Có mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Lâm Tấn T3, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: 520, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ cất giấu.
Vụ 2: Sau khi cất giấu tài sản vừa trộm được, T tiếp tục đi tìm tài sản lấy trộm, đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến trước hộ số E, đường L, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ, T phát hiện 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Martin 107 của bà Trần Thị H đang dựng phía trước hộ số 56/1. Quan sát xung quanh không có ai, T đi đến lấy trộm xe đạp và lên xe chạy đi. Trần Thị H phát hiện xe đạp bị mất trộm nên đến Công an P, thành phố S trình báo sự việc. T mang xe đạp vừa lấy trộm được đến vựa phế liệu Tèo Nga tại số E, đường Q, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ bán cho Trương Thanh T2 (nhân viên tại vựa) được số tiền 120.000 đồng tiêu xài hết.
Vụ 3: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/7/2024, T đến khoa tư vấn và điều trị nghiện chất ma túy thuộc Trung tâm y tế thành phố S để uống thuốc điều trị nghiện Methadol. Sau khi uống xong, T đi bộ đến khu vực Chợ S thuộc Phường B, thành phố S để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến D thuộc Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ, T phát hiện 01 chiếc xe đạp màu xanh, nhãn hiệu Martin của ông Phạm Minh N đang dựng dưới dạ cầu, gần bờ sông. Quan sát xung quanh không có ai, T đi đến lấy trộm xe đạp và lên xe chạy đi, cùng lúc này ông N phát hiện xe đạp bị mất trộm nên đến Công an P, thành phố S trình báo sự việc. T mang xe đạp vừa lấy trộm được đi tìm nơi bán, khi chạy đến đoạn đường gần cầu Đ thuộc xã T, thành phố S bán xe đạp cho một người phụ nữ mua phế liệu dạo (không xác định được họ tên, địa chỉ) được số tiền 98.000 đồng tiêu xài hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thu giữ vật chứng, tài sản gồm:
- 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Fuhachl, phía trước có gắn giỏ bằng nhựa màu xám, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng.
- 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Martin 107, phía trước có gắn giỏ bằng kim loại được sơn màu bạc, đã qua sử dụng, xe đạp đã bị tháo rời mất 02 bánh xe và 02 vành xe.
- 03 đoạn clip được trích xuất từ camera giám sát của các hộ dân trong khu vực, ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội của Cam Quang T được lưu giữ trong 02 USB.
- 01 cái áo thun dài tay, màu nâu trắng, trên cổ áo có dòng chữ Kenzo Pari; 01 cái quần jean ngắn màu xanh; 01 đôi dép quay ngang, màu đen, phía trên có dòng chữ “PLE” màu trắng của Cam Quang T, tất cả đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng.
Đối với 02 bánh xe và 02 vành xe đạp của bà Trần Thị H, hiện vựa phế liệu Tèo N2 đã cắt nhỏ và bán phế liệu cho người khác; xe đạp của ông Phạm Minh N, T bán cho người phụ nữ mua phế liệu dạo nên không thu hồi được.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2024 và số 44/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận:
- 01 chiếc xe đạp, màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ F (xe của bà Thạch Thị Sa R), đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi. Thời điểm định giá ngày 17/7/2024 là 350.000 đồng.
- 01 chiếc xe đạp, màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Martin 107 (xe của bà Trần Thị H), đã qua sử dụng, tài sản đã được thu hồi, hiện tại xe không có 02 bánh. Thời điểm định giá ngày 17/7/2024 là 323.333 đồng.
- 01 chiếc xe đạp, màu xanh, nhãn hiệu Martin (xe của ông Phạm Minh N), đã qua sử dụng và không thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 31/7/2024 là 150.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 823.333 đồng.
Về xử lý vật chứng, tài sản cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý:
- Hoàn trả cho bà bà Thạch Thị S: 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Fuhachl, phía trước có gắn giỏ bằng nhựa màu xám.
- Hoàn trả cho bà Trần Thị H: 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Martin 107, phía trước có gắn giỏ bằng kim loại được sơn màu bạc, xe đạp đã bị tháo rời mất 02 bánh xe và 02 vành xe.
- Hoàn trả cho Cam Quang T: 01 cái áo thun dài tay, màu nâu trắng, trên cổ áo có dòng chữ Kenzo Pari; 01 cái quần jean ngắn màu xanh; 01 đôi dép quay ngang, màu đen, phía trên có dòng chữ “PLE” màu trắng của Cam Quang T.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Thạch Thị SaRên đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.
- Bị hại Trần Thị H yêu cầu Cam Quang T bồi thường 02 bánh xe đạp không thu hồi được. Ông Cam Quang Đ (cha của bị cáo T) đã sửa chữa xe đạp của bà H trả lại hiện trạng ban đầu (lắp đầy đủ 02 bánh xe) và bà H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.
- Bị hại Phạm Minh N yêu cầu Cam Quang T bồi thường xe đạp không thu hồi được. Ông Cam Quang Đ đã mua 01 chiếc xe đạp khác bồi thường cho ông N nhận xong, không có yêu cầu gì thêm.
- Đối với chiếc xe đạp của bà Trần Thị H, bị cáo T đã bán cho tiệm phế liệu “Tèo N2”, do Trương Thanh T2 trực tiếp mua, nay tài sản đã bị thu hồi và hoàn trả cho bị hại, nên anh Trương Thanh T2 yêu cầu Cam Quang T bồi thường cho T2 số tiền mua xe đạp 120.000 đồng. Ông Cam Quang Đ đã bồi thường cho T2 nhận xong, không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSTPSĐ ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Cam Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cam Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 27/8/2024 của TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Tổng hợp 02 bản án bị cáo T phải chấp hành là 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng, nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
- [2]. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với biên bản và kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định như sau: Bị cáo Cam Quang T có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo liên tiếp lén lút thực hiện 03 lần chiếm đoạt tài sản, cụ thể vào ngày 17/7/2024, lén lút chiếm đoạt 02 lần của bà Thạch Thị S 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Fuhachl có giá trị tài sản là 350.000 đồng và bà Trần Thị H 01 chiếc xe đạp màu trắng, trên sườn xe có dán dòng chữ Martin 107 có giá trị tài sản là 323.333 đồng và vào ngày 31/7/2024 lén lút chiếm đoạt của ông Pham Minh N3 01 chiếc xe đạp màu xanh, nhãn hiệu Martin có giá trị tài sản là 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt 03 lần là 823.333 đồng.
Từ những căn cứ nêu trên, đã xác định hành vi của bị cáo là phạm tội, đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
- [3]. Bị cáo Cam Quang T là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải nhận thức được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều sẽ bị xử lý nhưng do bản tính tham lam, lười biếng lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không cần bỏ ra nhiều công sức lao động nên bị cáo thực hiện hành vi tội phạm. Bị cáo đã tìm các bị hại có sự sơ hở trong quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích vụ lợi cá nhân. Bị cáo thực hiện tội phạm táo bạo, liều lĩnh, địa điểm phạm tội nơi công cộng, nơi đông người, thời gian phạm tội vào ban ngày. Do đó, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo để bị cáo trở thành công dân tốt, giúp ích cho gia đình và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động gia đình, gia đình bị cáo đã bồi thường, khắc phục xong cho các bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
- [5]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- [6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 USB chứa 03 đoạn clip được trích xuất từ camera giám sát của các hộ dân trong khu vực, ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội của Cam Quang T. Đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- [7]. Ngoài ra, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo Cam Quang T 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định pháp luật.
- [8]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên chấp nhận.
- [9]. Về án phí: Bị cáo Cam Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Lưu vào hồ sơ vụ án 02 USB chứa 03 đoạn clip được trích xuất từ camera giám sát của các hộ dân trong khu vực, ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội của Cam Quang T.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Cam Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Cam Quang T 10 (Mười) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, mức hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 07 (B) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2024.
Buộc bị cáo Cam Quang T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuấn Em |
7
8
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 1 năm 7 tháng tù
