|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 17/10/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễn Mai Phương.
Ông: Lê Văn Toàn.
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòe - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung H, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 26/10/2004, tại huyện T, Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Trung H1, sinh năm 1978 và bà: Đậu Thị H2, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Trung H hiện đang áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ 30/7/2024 đến nay; có mặt.
Bị hại: Anh Trần Hữu T, sinh ngày: 28/3/1994. Trú tại: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Ngọc T1; sinh ngày: 27/10/2000. Trú tại: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 25/06/2024, bị cáo Nguyễn Trung H, điều khiển xe máy điện đi từ nhà tại xã K đến cửa hàng xe máy điện H của ông Nguyễn Hữu T2, ở khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi đến cửa hàng xe máy điện H thì Nguyễn Trung H dùng tay ấn vào cửa kính bên ngách làm cửa kính bung chốt. Sau đó, H đột nhập vào trong cửa hàng lấy 01 (một) bộ gồm 05 (năm) bình ắc quy, vỏ ngoài ghi nhiều chữ nước ngoài và có dòng chữ 6-DZF-20, cùng đặc điểm màu xanh đen, kích thước (17 x 18 x 7) cm mang bỏ lên xe máy điện chở về nhà tại xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Về đến cổng nhà, H cất dấu bộ bình ắc quy ở ngoài cổng. Đến 7 giờ 00 phút cùng ngày, H ra mở hộp bình ắc quy rồi dùng đá tác động lên các bình nghìn đồng). Lúc đó, chị T1 có hỏi H là “Bình mô mà nhiều hầy?” thì H trả lời “em đi sửa xe, tháo bình bán, mỗi bình lời được có hai mươi ngàn”. Sau đó chị T1 mua 05 (năm) bình trên với giá 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo H lấy tiền và đã sử dụng số tiền này vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 17/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 1037/YC-CSĐT đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T để xác định giá trị tài sản bị trộm cắp mà có là: 05 (năm) bình ắc quy xe máy điện màu xanh, đen loại 6-DZF-20 (12V-20Ah) bình ắc quy mới chưa qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ án ngày 25/6/2024.
Tại kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá UBND huyện T kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của 05 bình ắc quy xe máy điện màu xanh, đen loại 6-DZF-20 (12V-20Ah) bình ắc quy mới chưa qua sử dụng tại thời điểm xảy ra chiếm đoạt ngày 25/6/2024 có giá là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan CSĐT, bị cáo Nguyễn Trung H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được.
Tại bản Cáo trạng số: 70/CT-VKS-TK ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trung H mức án từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và trả lại cho
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.
Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
-
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung H đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 25/06/2024 tại cửa hàng xe máy điện H, bị cáo Nguyễn Trung H lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã lén lút trộm cắp 01 (một) bộ gồm 05 (năm) bình ắc quy, vỏ ngoài ghi nhiều chữ nước ngoài và có dòng chữ 6-DZF-20, cùng đặc điểm màu xanh đen, kích thước (17 x 18 x 7) cm của ông Nguyễn Hữu T2 có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác với tổng giá trị tài sản là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục đầy đủ thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [4] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do động cơ chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã cố ý phạm tội, lợi dụng sự sơ hở của người chủ sở hữu tài sản rồi lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- [6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại số tiền 750.000 đổng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 7 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng (thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án là ngày 17/10/2024) về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Trung H về cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án dược niêm yết hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa |
|
Lê Văn Toàn |
Nguyễn Thị Thu Hương |
|
Nguyễn Mai Phương |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 71-2024-HS-ST ngày 17-10-2024
