Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày : 14/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng

Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Đức Thành, ông Đàm Chí Thân

-Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Tiến Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/HS-ST ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST- HS ngày 03/6/2024 đối với bị cáo:

VŨ CÔNG L

Tên gọi khác: không, giới tính: nam. Sinh ngày 16/11/1987, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu D, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Vũ Công B; họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X; vợ: Trần Hải Y, có một con sinh năm 2010. Anh em ruột có hai người, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án: bản án số 41/2020/ HS –ST ngày 17/7/2020, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bản án số 86/2022/HS - ST ngày 07/9/2022, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 11/8/2023, L đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tiền sự: không.

+ Nhân thân: ngày 14/3/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, đến ngày 14/3/2013 đã chấp hành xong toàn bộ bản án; Ngày 25/3/2013, bị Công an phường Y, thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”, đã nộp phạt xong ngày 25/3/2013. Từ năm 2007 đến năm 2020, L 05 lần đi cai nghiện tự nguyện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 20/02/2024 hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Vũ Công T, sinh năm 2005. Nơi cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Dương Văn T1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: khu C, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: anh Vũ Văn H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1996. Nơi cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Anh Vũ Công H1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: khu D, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Công L1 là đối tượng nghiện ma túy không có việc làm ổn định, trong các ngày 18/02/2024 và 20/02/2024, L1 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu sài cho bản thân, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 14 giờ ngày 18/02/2024, L1 một mình đi bộ đến đoạn đường nhà anh Dương Văn T1, sinh năm 1976, ở khu C, phường Y, thị xã Q thì thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - vàng (không gắn biển kiểm soát) của anh T1 đỗ ở ven đường, trước cửa nhà anh T1 không có người trông coi quản lý, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. L1 dùng tay vặn chìa khóa thì mở được khóa xe sau đó điều khiển xe đi tìm cửa hàng để tiêu thụ nhưng không bán được do không có giấy tờ xe nên L1 điều khiển xe về nhà cất giấu. Sau đó anh T1 kiểm tra camera an ninh thì phát hiện khoảng việc L1 lấy trộm xe nên gọi điện nhờ anh Vũ Công H1 (là anh họ của L1) đến gặp L1 để lấy lại xe trả lại cho anh T1. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/02/2024, anh H1 đến nhà gặp L1 nói việc L1 trộm cắp xe của anh T1 bị camera an ninh ghi lại nên L1 giao xe cho anh H1 để trả lại xe cho anh T1. Đến ngày 22/02/2024, anh T1 đã trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và giao nộp chiếc xe mô tô trên.

Lần thứ hai: khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/02/2024, L1 đi bộ đến quán internet của anh Vũ Văn H ở khu B, phường P, thị xã Q để chơi điện tử. Đến khoảng 02 giờ 40 phút ngày 20/02/2024, L1 ra về thấy tại quán có nhiều xe máy không có ai trông coi nên L1 nảy sinh ý định trộm. L1 lại gần xe mô tô, biển kiểm soát 14 AX - 047.98 của anh Vũ Công T (sinh năm 2005; Trú tại: Thôn C, xã C, thị xã Q) là người chơi điện tử ở quán, kiểm tra thấy không khóa cổ nên L1 ngồi nên xe dùng chân đẩy xe ra khỏi quán và dùng chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, có in chữ “KIA” của L1 cắm vào ổ khóa xe thì đề nổ máy được. L1 điều khiển xe tìm nơi tiêu thụ nhưng không bán được. Sau khi bị mất trộm xe, anh T đã đến trình báo Cơ quan Công an. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 20/02/2024, L1 điều khiển xe đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy tại phường Y, thị xã Q để bán xe nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phường P, thị xã Q thu giữ vật chứng và yêu cầu L1 về trụ sở Công an phường để làm việc. Thu giữ của L1 01 chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, có in chữ KIA.

Tại Cơ quan điều tra: Vũ Công L1 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án, ngoài ra còn khai: L1 thực hiện 02 vụ trộm cắp một mình, không có ai khác tham gia cùng. Chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, in chữ KIA mà L1 sử dụng mở khóa điện xe mô tô trong vụ trộm thứ hai do L1 nhặt được trên đường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho L1 xem bản ảnh trích xuất hình ảnh camera từ 02 vụ trộm cắp, L1 xác nhận được người thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô YAMAHA SIRIUS, màu đen vàng không gắn BKS ngày 18/02/2024 và xe mô tô BKS 14 AX - 047.98 màu đen bạc ngày 20/02/2024 là L1.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL - HĐĐG, ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá thị xã Q, Kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng, đăng ký biển kiểm soát 14 U1-104.49, không gắn biển kiểm soát đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 3.375.000 đồng; 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 14 AX-047.98, nhãn hiệu Motorthai, màu đen bạc đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 12.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của 02 xe mô tô là 15.975.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 698/CT-VKSQY ngày 14/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Vũ Công L1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thị xã Q giữ quan điểm truy tố bị cáo Vũ Công L1 tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Công L1 từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.

Về xử lý vật chứng: ngày 08/3/2024, Công an thị xã Q đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng, đăng ký biển kiểm soát: 14 U1-104.49, không gắn biển kiểm soát cho anh Dương Văn T1; trả lại 01 xe mô - tô nhãn hiệu Motorthai, màu đen bạc, biển kiểm soát: 14 AX - 047.98 cho anh Vũ Công T.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, có in chữ KIA thu giữ của Vũ Công L1.

Về bồi thường dân sự: bị hại anh Dương Văn T1 và anh Vũ Công T không yêu cầu bị cáo L1 phải bồi thường dân sự nên không đề cập.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Công L1 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thể hiện: khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/02/2024 tại khu C, phường Y, thị xã Q, bị cáo trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng, không gắn biển kiểm soát của anh Dương Văn T1. Lần thứ hai: khoảng 02 giờ 40 phút ngày 20/02/2024 tại khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Motorthai màu đen bạc, biển kiểm soát 14 AX - 047.98 của anh Vũ Công T. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại anh Dương Văn T1 khai: trưa ngày 18/02/2024, anh T1 đi làm về và để xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen - vàng, không gắn BKS để ở vỉa hè trước cửa nhà anh T1 ở khu C, phường Y (xe đăng ký BKS 14 U1 - 104.49, đã bị rơi mất BKS trước khi bị mất trộm), chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày anh T1 không thấy xe và kiểm tra camera nhà anh Q ở cạnh nhà thì phát hiện vào hồi 14 giờ 48 phút cùng ngày Vũ Công L1 lấy trộm xe của anh T1 do anh T1 có quen biết từ trước với L1 nên nhận dạng được L1. Sau đó anh T1 đến nhà L1 để yêu cầu trả xe nhưng không gặp được nên nhờ anh Vũ Công H1 là anh họ của L1 tìm L1 để trả xe cho anh T1. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, anh H1 điều khiển xe mô tô đến trả cho anh T1.

- Bị hại anh Vũ Công T khai: khoảng 21 giờ ngày 19/02/2024, anh T để xe mô tô, biển kiểm soát: 14 AX-047.98 nhãn hiệu Motorthai, màu đen bạc ở vỉa hè trước cửa quán internet của anh Vũ Văn H ở khu B, phường P để chơi game, lúc này xe không khóa cổ. Đến khoảng 02 giờ 40 phút ngày 20/02/2024 anh T ra khỏi quán thì phát hiện xe đã bị kẻ gian lấy trộm. Khi được anh H cho xem lại camera an ninh ở quán thì anh H có nhận ra người trộm cắp xe tên là L1 nhà ở phường Y.

- Người làm chứng anh Vũ Văn H khai: anh H là chủ quán in-ter-net “H" tại khu B, phường P, thị xã Q. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/02/2024, L1 nhà ở khu D, phường Y đến quán của anh để chơi điện tử. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày có T nhà ở xã C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Motorthai, biển kiểm soát: 14AX - 047.98 đỗ tại vỉa hè trước quán của anh để chơi điện tử. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 20/02/2024 anh T nói với anh H về việc bị mất trộm xe, lúc đó L1 đã về. Anh H kiểm tra ca-me-ra an ninh của quán thì phát hiện khoảng 02 giờ 41 phút ngày 20/02/2024 L1 đi từ trong quán ra và lấy trộm xe của anh T. Anh H nhận diện được L1 là người trộm cắp xe vì L1 thường xuyên đến quán để chơi điện tử.

- Người làm chứng anh Vũ Công H1 khai: anh H1 là con bác ruột của Vũ Công L1. Khoảng 16 giờ ngày 18/02/2024, anh đang ở nhà thì anh Dương Văn T1 nhà ở khu C, phường Y gọi điện đến nói vào khoảng 14 giờ ngày 18/02/2024, L1 đến trước cửa nhà anh T1 trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng, không gắn BKS của anh T1, sự việc đã được camera an ninh nhà hàng xóm ghi lại. Sau đó anh T1 nói đến nhà tìm L1 nhưng không gặp. Đến khoảng 06 giờ ngày 19/02/2024, anh H1 đến nhà L1 thì thấy xe mô tô của anh T1 để ở sân và L1 nói xe trên do trộm cắp của anh T1. Anh H1 bảo L1 đưa xe trên cho anh để trả lại cho anh T1 thì L1 đồng ý và anh điều khiển xe đến nhà anh T1 để trả cho anh T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

*Về hành vi phạm tội:

[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Vũ Công L1 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng.

Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại; phù hợp lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: lần thứ nhất khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/02/2024 tại khu C, phường Y, thị xã Q, Vũ Công L1 có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng, đăng ký biển kiểm soát: 14 U1-104.49, không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng của anh Dương Văn T1 trị giá 3.375.000 đồng. Lần thứ hai, khoảng 02 giờ 40 phút ngày 20/02/2024 tại khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, L1 có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Motorthai màu đen bạc, biển kiểm soát: 14 AX - 047.98 của anh Vũ Công T trị giá 12.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Vũ Công L1 trộm cắp là 15.975.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Công L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) “Tái phạm nguy hiểm.”.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp hai chiếc xe mô tô của anh Dương Văn T1, anh Vũ Công T. Lần thứ nhất: khoảng 14 giờ ngày ngày 18/02/2024, bị cáo đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Si-ri-us, màu đen - vàng của anh T1, trị giá 3.375.000 đồng. Lần thứ hai: khoảng 2 giờ 40 phút ngày 20/02/2024, bị cáo xe mô tô BKS 14 AX - 047.98, nhãn hiệu motorthai, trị giá 12.600.000 đồng. Bị cáo có hai tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần, tổng trị giá 15.975.000 đồng. Do đó, bị cáo Vũ Công L1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết. Cần tiếp tục cách ly bị cáo với xã hội để cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Vũ Công L1 hai lần thực hiện hành vi trộm cắp nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo yên tâm cải tạo sau trở thành người có ích cho xã hội.

[5]. Về vật chứng trong vụ án: ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng, đăng ký biển kiểm soát: 14 U1 - 104.49, không gắn biển kiểm soát, cho anh Dương Văn T1; trả lại 01 xe mô - tô nhãn hiệu Motorthai, màu đen bạc, BKS: 14 AX - 047.98 cho anh Vũ Công T. Quá trình điều tra: thu giữ của Vũ Công L1 chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, có in chữ KIA. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về trách nhiệm bồi thường: bị hại anh Dương Văn T1 và anh Vũ Công T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo L1 phải bồi thường nên không xét.

[7]. Vấn đề khác: đối với anh Vũ Công H1 được anh Dương Văn T1 nhờ tìm L1 lấy lại xe, anh H1 đã lấy xe từ L1 trả anh T1. Anh H1 không biết việc L1 trộm cắp xe của anh Dương Văn T1.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Công L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Vũ Công L1: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.

Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chìa khóa có chuôi màu đen, in chữ KIA theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo Vũ Công L1 phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện KSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện KSNDTX Quảng Yên;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam CAT Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADSTX Quảng Yên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Công L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger