Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TN

TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Trung;

Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát thành phố TN, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Trà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh V, sinh năm 1987; tại tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số nhà 22 hẻm 88, đường CMT8, khu phố N, phường M, thành phố TN, tỉnh TN; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ HT, hẻm 21, đường Huỳnh Tấn P, khu phố HT, phường HN, thành phố TN, tỉnh TN; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hóa: 04/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; con ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1962 (đã chết) và con bà Phan Thị Đông P, sinh năm 1964; vợ: Bùi Thị Bích T, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2003;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bắt để tạm giữ ngày 09-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 18-4-2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố TN, tỉnh TN đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 09-4-2024, tại phòng số 06, nhà trọ HT, hẻm 21 đường Huỳnh Tấn P, khu phố HT, phường HN, thành phố TN, tỉnh TN. Công an thành phố TN, tỉnh TN tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Minh V đang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho Nguyễn Thanh L, sinh năm 1978, ngụ tại: khu phố NĐ, phường NT, thành phố TN, tỉnh TN cùng sử dụng. Thu giữ trên nệm V và L đang ngồi có 01 bình thủy tinh có gắn nắp nhựa, trên nắp nhựa có gắn tẩu thủy tinh chứa tinh thể rắn màu nâu nghi là chất ma túy và đoạn ống hút nhựa, thu trên nắp thùng nhựa màu đỏ trong phòng 01 bịch nylon được hàn kín chứa tinh thể rắn, trong suốt nghi là ma túy và các đồ vật liên quan. V khai nhận bộ dụng cụ sử dụng ma túy và chất rắn màu nâu bên trong tẩu thủy tinh, tinh thể rắn trong suốt bên trong bịch nylon là ma túy của V cung cấp cho L sử dụng.

Quá trình điều tra Nguyễn Minh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Qua xác minh bị cáo V không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Kết luận giám định số: 715/KL-KTHS ngày 16-4-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận:

  • Mẫu chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) bên trong 01 tẩu thuỷ tinh gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0342 gam.
  • Mẫu tinh thể rắn trong suốt (ký hiệu M2) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0460 gam.

Kết quả thu giữ:

  • 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 715 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Võ Tuấn Kiệt và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN (bên trong có 01 tẩu thủy tinh).
  • 01 (Một) bình thủy tinh có gắn nắp nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn.
  • 01 (Một) quẹt ga.

Cáo trạng số: 72/CT-VKSTPTN ngày 29-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN truy tố bị cáo Nguyễn Minh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại tòa, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bị cáo V từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Căn cứ khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 715 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý Võ Tuấn Kiệt và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN (bên trong có 01 tẩu thủy tinh).
  • 01 (Một) bình thủy tinh có gắn nắp nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn.
  • 01 (Một) quẹt ga.

Bị cáo V không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo V rất hối hận về hành vi của bị cáo gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án thấp nhất để bị cáo về lo cho vợ, con và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố TN; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng; phù hợp vật chứng vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ ngày 09-4-2024, V đang ở phòng trọ số 06, nhà trọ HT, hẻm 21 đường Huỳnh Tấn P, khu phố HT, phường HN, thành phố TN, tỉnh TN thì N (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy xe ngang qua và dừng lại nói chuyện với V. Do biết N có bán ma túy nên V hỏi mua 150.000 đồng ma túy, N đồng ý bán và kêu V chờ N đi lấy ma túy. Sau đó, V vào phòng bỏ một ít ma túy vào tẩu thủy tinh chuẩn bị sử dụng. Lúc này, Nguyễn Thành L đến phòng trọ gặp V để nói chuyện, biết L có sử dụng ma túy nên V đưa ma túy cho L cùng sử dụng, số ma túy còn lại V để trên nắp thùng nhựa trong phòng. Khi V, L đang sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố TN, tỉnh TN phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo V đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3.1] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy trong cộng đồng dân cư, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn khác trong xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm băng hoại giống nòi, là một trong những nguyên nhân gây lây lan căn bệnh HIV/AIDS và phát sinh các loại tội phạm khác.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tách bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo biết hối lỗi, sửa sai bản thân, trở người sống có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bi cáo không có.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì không có khả năng thi hành.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với những tài sản không còn giá trị sử dụng gồm:

[6] Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: Đề nghị áp dụng điều luật, xác định tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với người có tên “N” là người bán trái phép ma túy cho bị cáo V do không rõ tên, địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố TN, tỉnh TN chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7.1] Đối với Nguyễn Thanh L là người sử dụng ma túy, Công an thành phố TN, tỉnh TN có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 42/QĐ-XPHC ngày 15-4-2024.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo V phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-4-2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 255 của Bộ Luật Hình sự:

Miễn hình phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Minh V vì không có khả năng thi hành.

3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 715 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý Võ Tuấn Kiệt và dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh TN (bên trong có 01 tẩu thủy tinh).
  • 01 (Một) bình thủy tinh có gắn nắp nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa.
  • 01 (Một) đoạn ống hút nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn.
  • 01 (Một) quẹt ga.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - VKSND tp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS tp Tây Ninh;
  • - Công an tp Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Trọng Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt Nguyễn Minh V 02 (Hai) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger