|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 14 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Dõng .
- Ông Phan Duy Bản.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham
gia phiên toà: bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trường Xuân V, sinh ngày 01/02/2001 tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: xóm B, thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1977 và bà Văn Thị Thanh K, sinh năm 1980; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2003 và có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: ngày 07/4/2021, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0124453/QĐ-XPVPHC ngày 08/04/2021 của Trưởng Công an xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; đã chấp hành xong quyết định vào ngày 20/4/2021.
Bị bắt theo quyết định truy nã vào ngày 23/9/2024, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: ông Bùi Công L, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- + Ông Dương Văn L1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
- + Ông Đỗ Xuân T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
- + Ông Lê Tấn S1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
- Người làm chứng: anh Trần Minh N, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 29/6/2023; bị cáo Nguyễn Trường Xuân V và Trần Minh N đi tìm nấm mối ở khu vực xã G, huyện T. Khi đến rẫy của ông Bùi Công L thì thấy nhà ông L đang khóa cửa bên ngoài, không có người ở nhà; bị cáo V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên bị cáo đập phá được ổ khóa cửa rồi gọi N đến cùng vào trộm cắp tài sản. Sau khi vào nhà, V và N phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nên sử dụng các dụng cụ có sẵn trong nhà tháo rời động cơ xe mô tô để trộm cắp; tiếp đó, V và N cùng khiêng 01 cái máy bơm thuốc ra xe của N rồi tiếp tục vào nhà lấy 02 cái máy cưa đem ra xe của V; sau đó V tiếp tục vào nhà lấy 01 lóc máy xe mô tô, 02 chai nhót, 01 ổn áp năng lượng mặt trời đem ra xe rồi V và N điều khiển xe mô tô mang tất cả các tài sản trộm được về nhà vợ của V là chị Nguyễn Thị Thu T để cất giấu. Sau đó, V bán cho ông Đỗ Xuân T1 01 cái máy cưa với giá 800.000đ, bán cho ông Lê Tấn S1 01 cái máy cưa với giá 1.000.000đ, bán cho ông Dương Văn L1 01 cái máy bơm thuốc với giá 1.900.000₫ và sử dụng hết vào mục đích cá nhân. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trường Xuân V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS, ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận đối với các tài sản mà bị cáo Nguyễn Trường Xuân V và anh Trần Minh N đã trộm cắp như sau: 01 cái máy cưa cầm tay màu cam có giá 300.000đồng; 01 máy cưa cầm tay màu trắng cam có giá 500.000đồng; 01 bình ắc quy loại 12V-30H, nhãn hiệu DONGNAI trị giá 280.000đồng; 01 bộ máy phun thuốc (gồm máy nổ bằng xăng hiệu BELL 5.5HP và đầu bơm, màu đỏ hiệu THAILAND), có trị giá 940.000đồng; 01 động cơ xe mô tô, hiệu ORIENTALL, không có số khung, số máy, có trị giá 112.000đồng; 02 chai nhớt hiệu ACCESS 1000, màu vàng có trị giá 90.000đồng; 01 ổn áp năng lượng mặt trời, hiệu SM2430U có trị giá 180.000đ; tổng trị giá tài sản nêu trên là 2.402.000đồng.
Tại Cáo trạng số 68/CT-VKS-TL, ngày 09/10/2024; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Trường Xuân V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Xuân V mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
[2] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Nguyễn Trường Xuân V đã bồi thường thiệt hại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn L1 số tiền 1.900.000đồng, ông Đỗ Xuân T1 số tiền 800.000đồng và ông Lê Tấn S1 số tiền 1.000.000đồng. Trong quá trình tố tụng, bị hại ông Bùi Công L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn L1, ông Đỗ Xuân T1, ông Lê Tấn S1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì.
[3] Về vật chứng:
Vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm có: 01 cái máy cưa cầm tay màu cam; 01 máy cưa cầm tay màu trắng cam; 01 bình ắc quy loại 12V-30H, nhãn hiệu DONGNAI; 01 bộ máy phun thuốc (gồm máy nổ bằng xăng hiệu BELL 5.5HP và đầu bơm, màu đỏ hiệu THAILAND); 01 động cơ xe mô tô, hiệu ORIENTALL, không có số khung, số máy; 02 chai nhớt hiệu ACCESS 1000, màu vàng; 01 ổn áp năng lượng mặt trời, hiệu SM2430U. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tất cả các vật chứng này cho chủ sở hữu là ông Bùi Công L.
[4] Ý kiến của bị cáo, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bị cáo thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Bị hại ông Bùi Công L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn L1, ông Đỗ Xuân T1, ông Lê Tấn S1 đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên những người này đã khai báo đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án và trong quá trình điều tra đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Do đó việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan của vụ án. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa và đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định xét xử vắng mặt những người này là phù hợp.
[2]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[3]. Về thẩm quyền giải quyết:
Bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 03 năm tù, là thuộc tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[4] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
[4.1] Về định tội danh:
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau: Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 29/6/2023, tại thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; bị cáo Nguyễn Trường Xuân V và anh Trần Minh N đã có hành vi lén lút phá khóa cửa vào nhà ông Bùi Công L chiếm đoạt các tài sản gồm: 01 cái máy cưa cầm tay màu cam; 01 cái máy cưa cầm tay màu trắng cam; 01 bình ắc quy loại 12V-30H, nhãn hiệu DONGNAI; 01 bộ máy phun thuốc (gồm máy nổ bằng xăng hiệu BELL 5.5HP và đầu bơm, màu đỏ hiệu THAILAND); 01 động cơ xe mô tô, hiệu ORIENTALL, không có số khung; 02 chai nhớt hiệu ACCESS 1000, màu vàng và 01 ổn áp năng lượng mặt trời, hiệu SM2430U; có tổng trị giá là 2.402.000đồng. Sai khi trộm cắp được, bị cáo và anh N đem các tài sản này về cất giấu tại nhà chị Nguyễn Thị Thu T ở thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau đó, bị cáo bán cho ông Đỗ Xuân T1 01 cái máy cưa với giá 800.000đồng, bán cho ông Lê Tấn S1 01 cái máy cưa với giá 1.000.000đồng, bán cho ông Dương Văn L1 01 cái máy bơm thuốc với giá 1.900.000đ và sử dụng hết vào mục đích cá nhân.
Bị cáo Nguyễn Trường Xuân V là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân; bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; cố ý cùng lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Bùi Công L với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.402.000đồng. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Trường Xuân V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.3] Về quyết định hình phạt:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một khoảng thời gian phù hợp để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tương xứng là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình tố tụng, bị hại ông Bùi Công L2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn L1, ông Đỗ Xuân T1, ông Lê Tấn S1 đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Do đó Hội đồng xét xử không xét đến.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm: 01 cái máy cưa cầm tay màu cam; 01 máy cưa cầm tay màu trắng cam; 01 bình ắc quy loại 12V-30H, nhãn hiệu DONGNAI; 01 bộ máy phun thuốc (gồm máy nổ bằng xăng hiệu BELL 5.5HP và đầu bơm, màu đỏ hiệu THAILAND); 01 động cơ xe mô tô, hiệu ORIENTALL, không có số khung, số máy; 02 chai nhớt hiệu ACCESS 1000, màu vàng; 01 ổn áp năng lượng mặt trời, hiệu SM2430U. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyễn T đã trả lại tất cả các vật chứng này cho chủ sở hữu ông Bùi Công L là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015(Sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.
[7]. Về án phí:
Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Nguyễn Trường Xuân V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Kiến nghị về phòng ngừa tội phạm:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trường Xuân V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu T đều khẳng định: chị T sinh ngày 19/8/2003, chị T và bị cáo V có một người con chung tên Nguyễn Hoàng Trường A, sinh ngày 03/9/2018. Như vậy theo lời khai của bị cáo và chị T thì chị T sinh con chung với bị cáo khi chị T chỉ mới 15 tuổi 14 ngày. Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành xác minh, điều tra làm rõ về tiết này. Tuy nhiên hành vi này của bị cáo là hành vi độc lập, không có liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này và có đủ căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự nếu cấu thành tội phạm. Do đó, không cần thiết phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tiến hành thủ tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự đối với hành vi bị cáo V giao cấu với chị T.
[9]. Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi của anh Trần Minh N đã cùng bị cáo Nguyễn Trần Xuân V1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Bùi Công L2 thì đã được Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xét xử tại Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 09/7/2024. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Đối với hành vi ông Dương Văn L1, ông Đỗ Xuân T1, ông Lê Tấn S1 đã mua tài sản do bị cáo Nguyễn Trường Xuân V trộm cắp được của ông Bùi Công L và bán lại: tại thời điểm mua bán ông L1, ông T1, ông S1 đều không biết các tài sản này do bị cáo V trộm cắp mà có nên không cấu thành tội phạm. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không khởi tố là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Về tội danh:
Căn cứ vào: Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về hình phạt:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Xuân V 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt theo quyết định truy nã – Ngày 23/9/2024.
[3]. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Trường Xuân V có nghĩa vụ nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm – Ngày 14/11/2024.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
