Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 10/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phương và ông Trần Văn Cường.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế - số F Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với:

Bị cáo Lê Văn Q;

tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 02 năm 1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số E đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Phan Thị Xuân H; vợ: Lê Thị Thanh T1; con: Chưa có;

Nhân thân: - Ngày 16/10/2017, bị Công an phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành nộp phạt.

Ngày 07/12/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản - Bản án số: 297/2022/HS-ST, chấp hành xong ngày 21/02/2023.

Ngày 29/10/2024 bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” – Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 29/10/2024.

Tiền án: 01 (Ngày 07/12/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản - Bản án số: 297/2022/HS-ST, chấp hành xong ngày 21/02/2023).

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 169/2024/HSST-QĐTG ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến nay, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1994 (vợ của bị cáo); địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người bào chữa: Ông Nguyễn Thanh L – Luật sư của Văn phòng L1. Địa chỉ: Số C đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1982 và chị Lê Thị H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Đắc T2, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

+ Ông Lê Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số E đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Trần Thị Mỹ H2, sinh năm 1960; địa chỉ: Số I đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Lan H3, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 24/5/2024, Lê Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH màu đỏ, biển kiểm soát 75K1-1961 (xe Q lấy trộm của bà Trần Thị Mỹ H2, sinh năm 1960, ở tại phường A, thành phố H), đến Từ đường phái Nhất họ Phạm Văn, thuộc thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây, Q phát hiện dưới hiên Từ đường có 04 bao lúa của vợ chồng anh Phạm Văn N, sinh năm 1982 và chị Lê Thị H1, sinh năm 1983, đều trú tại thôn T, xã T, thị xã H; Quốc leo qua tường rào rồi lần lượt lấy trộm 04 bao lúa đưa ra ngoài (gồm 03 bao lúa loại Khang Dân, tổng cân nặng 124kg và 01 bao lúa loại Hương Thơm, cân nặng 35kg); sau đó, Q dùng xe mô tô trên chở các bao lúa đến trước cổng nhà số A đường L, phường A, thành phố H (tại đây còn có 03 bao lúa Q trộm trước đó tại thành phố H); rồi vào gặp và bán cho ông Nguyễn Đắc T2, sinh năm 1968, tổng số 07 bao lúa, cân nặng 294kg, với giá 2.600.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 (một) bao đựng lúa màu xanh, cân nặng 35kg; 03 (ba) bao đựng lúa màu trắng, tổng cân nặng 124kg.

2

Ngày 25/7/2024, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã H đã định giá và kết luận (Kết luận số: 59):

  • - 01 bao đựng lúa khô màu trắng loại Khang Dân, cân nặng 41kg, giá trị định giá: 373.100 đồng.
  • - 01 bao đựng lúa khô màu trắng loại Khang Dân, cân nặng 41kg, giá trị định giá: 373.100 đồng.
  • - 01 bao đựng lúa khô màu trắng loại Khang Dân, cân nặng 42kg, giá trị định giá: 382.200 đồng.
  • - 01 bao đựng lúa khô màu trắng loại Hương Thơm, cân nặng 35kg, giá trị định giá: 332.500 đồng.

Tổng giá trị là 1.460.900 đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn chín trăm đồng).

Ngày 04/10/2024, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền T đã kết luận về tình trạng tâm thần của Lê Văn Q như sau (Kết luận số: 1803/KLGĐ):

Trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Thời điểm hiện tại:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn N và chị Lê Thị H1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường về dân sự. Ông Lê Văn T là bố của bị cáo Lê Văn Q đã bồi thường cho ông Nguyễn Đắc T2, số tiền 1.390.000 đồng.

3

Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSHTh ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 04 đến 05 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 24/5/2024, tại thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Văn Q đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, có hành vi trộm cắp 04 (bốn) bao lúa của vợ chồng anh Phạm Văn N và chị Lê Thị H1, trị giá 1.460.900 đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn chín trăm đồng). Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ( ngày 24/5/2024), bị cáo là người chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng của bị cáo Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 76/CT-VKSHTh ngày 24/10/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần

4

xử lý nghiêm để bảo đảm tác dụng giáo dục, răn đe tội phạm. Tuy nhiên cũng xem xét cho bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; người phạm tội có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Văn Q có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, có 01 tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 29/10/2024 bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tang số phạm tội không lớn, tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu nên cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Q không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn N và chị Lê Thị H1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường về dân sự. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho ông Nguyễn Đắc T2, số tiền 1.390.000 đồng và không ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp, không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

5

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Q 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành bản án này.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người bào chữa, đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger