|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 02/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;
Thẩm phán: Ông Vũ Công Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Luận;
Ông Diêm Trọng Khoa;
Ông Trương Ngọc Cường.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Anh – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thực S, sinh năm 1972; nơi thường trú: Khu phố X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thực Â, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1947; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1972; có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án hình sự số 51/2020/HSST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Thực S 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự, bị cáo chấp hành xong án phí ngày 02/3/2021, chưa chấp hành xong thời gian thử thách.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Người bào chữa cho bị cáo S (do gia đình bị cáo mời): Ông Trần Hoàng Hùng C; Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh B có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Người chứng kiến:
- Anh Vũ Văn C1, sinh năm 1989; trú tại: Khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành C2, sinh năm 1987; trú tại: Khu A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Hữu B, Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Trại tạm giam, Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 09/01/2024, tại đoạn đường thuộc khu X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố B, Công an phường V bắt quả tang Nguyễn Thực S, sinh năm 1973, HKTT: khu X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đang có hành vi cất giấu trong người chất bột màu trắng, nghi chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
+ T tại bên trong áo khoác trước bụng Sắc đang mặc 01 (một) túi nilon màu tím, bên trong có 01 (một) gói bọc ngoài bằng nhiều lớp nilon và giấy, mở ra bên trong có 02 (hai) bánh hình hộp chữ nhật bọc ngoài bằng nhiều lớp nilon và giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng. Sắc khai nhận là ma túy heroin Sắc mang đi giao cho khách.
Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng vào một hộp giấy trước sự chứng kiến của anh Vũ Văn C1, sinh năm 1989, trú tại khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; anh Nguyễn Thành C2, sinh năm 1987, trú tại khu A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo quy định.
Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của Sắc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 gắn sim 0969.080.870.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của S tại khu X, phường V, thành phố B, lực lượng Công an phát hiện, thu giữ tại ngăn tủ bên phải tủ kê ti vi trên tầng ba có 01 (một) hộp giấy màu nâu, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, mở ra bên trong có 04 (bốn) túi nilon màu trắng đựng chất bột màu trắng; 01 cân tiểu ly điện tử. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong vật chứng trên vào trong một hộp giấy (ký hiệu K1) theo quy định.
Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, tại bản Kết luận giám định số 345 ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
+ Chất bột màu trắng bên trong hộp giấy không ký hiệu gửi giám định có khối lượng 392,84 gam là ma túy, loại ma túy: Heroin.
+ Chất bột màu trắng bên trong hộp giấy ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng 71,22 gam là ma túy, loại ma túy: Heroin.
Heroin (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Quá trình điều tra, xác định:
Qua quan hệ xã hội, Nguyễn Thực S quen biết một người đàn ông tên S1 (S không rõ tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể). Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, khi S đang ở nhà thì S1 đến thuê S vận chuyển ma túy cho S1, xong việc S1 sẽ trả công 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Do cần tiền nên S đồng ý. S1 đưa cho S 02 túi nilon, trong đó 01 túi nilon màu tím, bên trong chứa 02 bánh hình chữ nhật và 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 04 túi nilon nhỏ chứa chất bột màu trắng. S1 nói cho S biết 02 túi nilon trên chứa ma túy Heroin và bảo S, khoảng 20 giờ 00 phút tối cùng ngày mang túi nilon màu tím chứa 02 bánh ma túy ra đoạn ngã ba gần chợ khu X, sẽ có người đến nhận; một giờ sau, tiếp tục mang túi nilon màu trắng chứa 04 túi ma túy ra chỗ cũ, sẽ có người đến nhận, S đồng ý. Sau khi đưa ma túy cho S, S1 bỏ đi, đi đâu, làm gì S không biết. Sắc cất giấu túi nilon màu tím chứa 02 bánh ma túy vào khu vực hàng rào cạnh nhà, còn túi nilon màu trắng chứa 04 túi ma túy, S cất giấu vào trong hộp giấy màu nâu để trong ngăn tủ bên phải tủ kê ti vi tại tầng ba, không cho ai biết.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, S lấy túi nilon màu tím chứa 02 bánh ma túy, cất giấu vào bên trong áo khoác ở trước bụng rồi đi bộ ra khu vực chợ K1 để giao ma túy giúp S1. Khi S đang đợi để giao ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy như đã nêu trên.
Tiến hành kiểm tra nước tiểu, xác định: Sắc âm tính với chất ma túy.
Đối với chiếc cân điện tử thu giữ tại nhà S, S khai nhận được một người bạn xã hội cho trước đó vài tháng, S giữ lại mục đích để sưu tầm.
Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 gắn sim 0969.080.870 của S, Cơ quan điều tra không phát hiện dữ liệu có liên quan đến ma túy.
* Về vật chứng của vụ án.
+ 01 hộp giấy đựng mẫu vật còn lại sau giám định, có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B;
+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 gắn sim 0969.080.870 của S.
Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để chờ xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thực S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSBN-P1 ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thực S về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thực S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Bị cáo khai, trước đó S1 là người quen qua quan hệ xã hội nhưng bị cáo không biết địa chỉ, lai lịch có đến nhà bị cáo nhờ mang hai gói ma túy giao cho người của S1. Khi giao ma túy S1 không nói là loại ma túy gì và khối lượng là bao nhiêu. Xong việc S1 sẽ trả công cho 10.000.000 đồng. Do cần tiền và nể nang nên bị cáo đồng ý. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai. Bị cáo mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét mở lượng khoan hồng để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thực S phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thực S 20 năm tù.
Chuyển hình phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 51/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thành 36 tháng tù giam; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai Bản án là 23 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội; không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 13 không dùng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Luật sư Trần Hoàng Hùng C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thực S nhất trí với tội danh, điều khoản mà VKS đề nghị áp dụng. Luật sư cho rằng, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản điểm s, v khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo chưa được hưởng lợi gì từ hành vi vận chuyển ma túy; toàn bộ số ma túy đã bị thu giữ, nên chưa gây nguy hiểm cho xã hội. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên mức hình phạt 20 năm tù mà VKS đề nghị là phù hợp với Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận mức hình phạt và VKS đề nghị. Đối với chiếc điện thoại của bị cáo bị thu giữ, do không sử dụng vào mục đích phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thực S đồng ý với quan điểm của luật sư bào chữa và VKS; không tranh luận, bổ sung gì thêm.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội, nuôi dạy con cái và cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
- Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 09/01/2024, tại đoạn đường thuộc khu X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố B, công an phường V bắt quả tang Nguyễn Thực S đang có hành vi vận chuyển trái phép 392,84 gam Heroin; ngoài ra Sắc còn cất giấu trái phép 72,22 gam Heroin tại chỗ ở mục đích vận chuyển cho đối tượng tên S1 để hưởng 10.000.000 đồng tiền công. Khi S chưa kịp giao ma túy và nhận tiền công thì lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy. Tổng khối lượng Heroin Sắc vận chuyển là 464,06 gam. Do đó, có đủ căn cứ để xét xử Nguyễn Thực S phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy:
- Bị cáo đã từng bị TAND thành phố Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo được Bộ trưởng Bộ Y tặng thưởng Kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có được Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình chống lao Quốc gia; bị cáo có nhiều năm tham gia quân đội; có cha đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ đẻ tham gia Thanh niên xung phong, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về hình phạt, HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 464,06 gam heroin, lẽ ra phải áp dụng hình phạt tù không thời hạn mới tương xứng với khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển trái phép. Tuy nhiên, HĐXX thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo là người có nhiều năm lái xe trong quân đội, sau đó chuyển sang công tác tại bệnh viện Phổi tỉnh B. Quá trình làm việc, bị cáo có nhiều đóng góp trong công tác nên được Giám đốc Bệnh viện P tặng Giấy khen và Bộ trưởng Bộ Y tặng Kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân. Chỉ vì trước đây, trong khi lái xe công vụ của Bệnh viện bị cáo đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên bị kết án; bị cáo bị mất việc làm từ đó tiếp tục lầm đường sa vào con đường phạm tội. Nay ngoài hình phạt mà cáo phải chịu trong vụ này, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án trước. HĐXX xét thấy có thể cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của VKS để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng đủ nghiêm để răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích kiếm lời nhưng chưa được hưởng lợi gì; bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của VKS là phù hợp.
- Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, do không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Những vấn đề khác: Đối với đối tượng tên S1 theo S khai là người thuê vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, S không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của S1 ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 56, Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thực S phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy".
Xử phạt Nguyễn Thực S 20 (Hai mươi) năm tù.
Chuyển hình phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 51/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thành 36 tháng tù giam; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai Bản án là 23 (Hai mươi ba) năm tù.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thực S 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
-
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 hộp niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, trên mặt hộp ghi chữ: Kính gửi CSĐT (PC04) - Công an tỉnh B. Mẫu vật còn nguyên niêm phong kèm theo KLGĐ số 345/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của phòng KTHS - Công an tỉnh B.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thực S 01 điện thoại Iphone 13 kèm sim điện thoại số 0969.080.xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 86/2024 ngày 25/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thực S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN THUC S PHAM TOI VAN CHUYEN TRAI PHEP CHAT MA TUY
