|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-PT Ngày: 12- 11- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Thắng và ông Trần Quang Cường.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 89/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Anh V do có kháng cáo của bị cáo Vũ A Việt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Anh V, sinh ngày 02/02/1988, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ B, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân công ty cổ phần T5; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Cao Thị T1, có 02 con, con lớn nhất sinh 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/02/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/12/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C) xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp bản án ngày 05/02/2007, buộc Vũ Anh V chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 tháng tù, ngày 30/8/2010 chấp hành xong bản án; ngày 20/11/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 26/02/2019 chấp hành xong bản án.
Bị cáo đầu thú ngày 26/12/2023, tạm giữ đến ngày 04/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, hiện tại ngoại, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Trương Tuấn C1, sinh năm1997; trú tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Trương Quang T2 sinh năm 1993; trú tại tổ G, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Ứng Đình C2, sinh năm 1986; trú tại tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Cao C3, sinh năm 1987, trú tại tổ C, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Hoàng Hồng D, sinh năm 1989; trú tại tổ H, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Bùi Hữu L, sinh năm 1985; trú tại tổ B, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Đào Hồng M, sinh năm 1989; trú tại tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Trịnh Minh T3, sinh năm 1981; trú tại tổ D, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Cao Thế A1, sinh năm 1982; trú tại tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Phạm Quang T4, sinh năm 1981; trú tại tổ C, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1981; trú tại tổ C, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1986; trú tại tổ F, khu D, phường C, thành phố C, vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1962; trú tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Người làm chứng: Cao Thị T1, sinh năm 1989; trú tại: tổ B, khu T, phường C, thành phố C, Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 12 năm 2021, Vũ Anh V đã cho nhiều người vay tiền lãi suất cao, với mức từ 108% đến 120%/ năm (gấp 5,4 đến 6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự). Khi vay tiền người vay phải viết giấy vay nợ và phải đặt sổ bảo hiểm hoặc giấy tờ khác. Hình thức chuyển tiền vay và thu lãi theo tháng, V sử dụng tài khoản số 19034327989025 của Ngân hàng Thương mại cổ phần K (T6) mang tên Vũ Anh V giao dịch với người vay. Ngoài ra, trong thời gian vay, V có thể thu tiền lãi, tiền gốc bằng tiền mặt. Vũ Anh V có sử dụng sổ để ghi chép việc cho vay lãi này. Trong thời gian từ tháng 12/2021 đến ngày 23/12/2023 V đã cho 12 người vay với tổng số tiền 141.100.000 đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 18/4/2023 anh Trương Tuấn C1 vay của V số tiền 5.000.000 đồng, hàng tháng anh C1 đóng cho V số tiền lãi là 500.000đ tương đương với lãi suất 120%/năm. Từ tháng 04/2023 đến ngày 20/12/2023, anh C1 đã trả tiền lãi với tổng số tiền là 4.500.000 đồng, còn nợ tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 750.000đ. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 3.750.000 đồng.
- Ngày 04/3/2022, anh Trương Quang T2 vay của V số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 120%/năm. Ngày 07/5/2022, anh T2 vay thêm của V 5.000.000 đồng, với lãi suất 120%/năm. Từ ngày 04/3/2022 đến ngày 07/9/2023 tổng số tiền lãi anh T2 đã trả là 26.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc, sau đó anh T2 xin V không đóng tiền lãi. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 4.333.333 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 21.666.667 đồng.
- Ngày 07/5/2022 anh Ứng Đình C2 vay của V số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 120%/năm. Đến ngày 11/11/2022, anh C2 tiếp tục vay của V số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 120%/năm. Từ ngày 07/5/2022 đến 21/12/2023 anh C2 đã trả tổng số tiền lãi là 17.000.000đ, chưa trả tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 2.833.333 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 14.166.667 đồng.
- Anh Nguyễn Cao C3 vay của V 04 lần vào các ngày khác nhau với tổng số tiền 35.000.000 đồng, lãi suất 108%/năm, tổng số tiền lãi Việt được phép thu theo quy định là 2.583.333 đồng; V thu lợi bất chính số tiền 11.131.667 đồng.
- Ngày 30/10/2022, anh Hoàng Hồng D vay của V số tiền 15.000.000 đồng với mức lãi suất 108 %/năm. Đến ngày 15/3/2023, anh D trả cho V 10.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 04/5/2023, anh D tiếp tục vay Việt 10.000.000 đồng. Từ tháng 10/2023, anh D và V thỏa thuận mức lãi là 96%/tháng, V đã thu của D 03 tháng tiền lãi là 3.600.000 đồng. Tính đến tháng 10/2023, anh D đã trả tiền lãi cho V với tổng số tiền lãi 12.200.000 đồng, chưa trả 15.000.000 đồng tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là 2.250.000 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là 9.950.000 đồng.
- Ngày 10/6/2022, anh Bùi Hữu L vay của V số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 120%/năm. Từ tháng 06/2022 đến ngày 04/11/2023 anh L đã trả tổng số tiền lãi là 18.000.000đ, chưa trả tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 3.000.000 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 15.000.000 đồng.
- Ngày 19/4/2023, anh Đào Hồng M vay của V số tiền 10.000.000 đồng với mức lãi suất 120%/năm. Tính đến ngày 20/12/2023, anh M đã trả tổng số tiền lãi cho V là 9.000.000đ, chưa trả tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 1.500.000 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 7.500.000 đồng.
- Ngày 15/7/2022, anh Trịnh Minh T3 vay của V số tiền 5.000.000 đồng với mức lãi suất 120%/năm. Tính đến ngày 20/12/2023, anh T3 trả lãi cho V số tiền là 9.000.000đ, chưa trả tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 1.500.000 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 7.500.000 đồng.
- Tháng 8/2021, anh Cao Thế A1 vay V số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 96%/năm, V đã thu được 3.200.000 đồng tiền lãi. Từ ngày 15/01/2022, V thỏa thuận với anh Thế A1 tăng mức lãi suất lên 108%/năm. Từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023, anh Thế A1 đã trả tiền lãi cho V tổng số tiền là 21.600.000 đồng, chưa trả tiền gốc. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 4.000.000 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là: 17.600.000 đồng.
- Ngày 15/3/2022, anh Phạm Quang T4 vay của V số tiền 5.000.000 đồng, trả lãi hàng tháng 400.000 đồng, tương đương với mức lãi suất 96 %/năm. Ngày 31/3/2022, anh T4 tiếp tục vay V số tiền 5.000.000 đồng và thỏa thuận trả lãi hàng tháng 900.000 đồng tương đương mức lãi suất cho cả hai khoản vay là 108%/năm. Ngày 07/5/2022, anh T4 tiếp tục vay của V số tiền 5.000.000 đồng và thỏa thuận trả lãi hàng tháng là 1.400.000 đồng, tương đương mức lãi suất cho ba khoản vay trên là 112%/năm. Ngày 21/8/2022, anh T4 tiếp tục vay của V số tiền 5.000.000 đồng và thỏa thuận trả lãi hàng tháng là 1.900.000 đồng, tương đương mức lãi suất cho bốn khoản vay trên là 114%/năm. Ngày 03/10/2022, anh T4 trả 5.000.000 đồng tiền gốc. Đến ngày 30/10/2022, anh T4 vay thêm 5.000.000 đồng, thỏa thuận trả lãi hàng tháng là 2.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất cho các khoản vay trên là 120%/năm. Từ ngày 31/3/2022 đến tháng 12/2023, V đã thu được tổng số tiền lãi là 27.300.000 đồng, chưa trả tiền gốc 20.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là 4.666.666 đồng. Số tiền lãi V thu lợi bất chính là 22.633.333 đồng.
- Anh Nguyễn Hữu D1 vay của V nhiều lần vào nhiều ngày với tổng số tiền 26.000.000 đồng, lãi suất 120%/năm, tổng số tiền lãi Việt được phép thu theo quy định là 2.616.667 đồng. V thu lợi bất chính tổng số tiền 12.583.333 đồng.
- Ngày 17/8/2022 anh Nguyễn Công H vay của V số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 120%/năm. Ngày 16/12/2022, anh H vay thêm Việt số tiền 1.100.000 đồng, tổng 02 khoản vay là 16.100.000 đồng, mức lãi 1.600.000 đồng/tháng tương đương lãi suất 119,25%/năm. Tính đến ngày 20/12/2023, anh H đã trả tiền lãi cho V với số tiền 26.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi V được phép thu theo quy định là: 4.387.840đ. Số tiền V thu lợi bất chính là: 21.812.160 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Vũ Anh V thu lợi bất chính là 158.703.827 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, Vũ Anh V khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với những người vay tiền nêu trên, phù hợp với nhau về số tiền vay, mục đích vay tiền, thời gian, lãi suất, hình thức vay tiền, cách thức nhận tiền và trả tiền; phù hợp số tiền đã trả, số tiền còn nợ, phù hợp sổ ghi chép và các giao dịch ngân hàng giữa V và những người vay tiền.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 24/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào: khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt V1 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 30.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/8/2024, bị cáo Vũ Anh V có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do mức án Toà sơ thẩm đã xử bị cáo là quá nặng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Vũ Anh V xin thay đổi nội dung kháng cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo theo nội dung thay đổi tại phiên toà phúc thẩm, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 90 ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, áp dụng: khoản 2 Điều 201; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội sửa chữa và có thời gian chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Anh V làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Vũ Anh V thay đổi nội dung kháng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền, xét thấy việc xin thay đổi nội dung kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Anh V khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng, không oan, bị cáo không thắc mắc gì về tội danh. Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ A Việt bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin được chuyển sang hình phạt tiền:
Tại đơn kháng cáo và tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo trình bày các lý do để xin được giảm nhẹ hình phạt như: quá trình giải quyết vụ án đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; giúp đỡ cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án; đã khắc phục hậu quả của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy những tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo trình bày ở trên đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khi lượng hình nên cấp phúc thẩm không xem xét lại. Đối với lý do bị cáo có 02 con nhỏ, trong đó có 01 con sinh năm 2023 (dưới 36 tháng tuổi) rất cần sự quan tâm chăm sóc của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không được áp dụng.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp cho Toà án biên lai thu tiền số 0001030 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh về việc bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 34.021.173 đồng mà cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước (gồm: tiền mà bị cáo dùng để cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sựbị cáo đã thu của người vay) và biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm số 0001029 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, điều này thể hiện bị cáo đã rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Bộ luật Hình sự quy định loại tội phạm này có hình phạt chính là hình phạt tiền, mặt khác Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định về Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là: Xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin được chuyển sang hình phạt tiền là hình phạt chính của bị cáo.
Việc xử phạt bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Do bị cáo bị xử hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
- Về án phí: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Anh V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh: chuyển sang hình phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ: khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Vũ Anh V phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Vũ Anh Việt 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.
Không phạt bổ sung (hình phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Anh V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Duy Hải |
Bản án số 71/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 71/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh Việt phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
