Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23 – 8 – 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phú Anh Lân
  2. Bà Đàng Thị Hồng Lam

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1980. (có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Võ Hùng D, sinh năm 1975. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2024 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Võ Hùng D chung sống với nhau tự nguyện từ năm 1997, do không hiểu biết pháp luật nên đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, ông D không quan tâm, thường xuyên uống rượu và sử dụng bạo lực với vợ con. Từ năm 2023 đến nay vợ

chồng không còn chung sống, bỏ mặc mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm của bà với ông D không còn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là Võ Thị D1, sinh 1998; Võ Văn D2, sinh 2002 và Võ Văn D3, sinh 08/12/2008. Các con chung D1, D2 đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được. Riêng con chung Võ Văn D3 hiện đang sống với ông D, bà đồng ý để ông D tiếp tục nuôi cháu D3 vì nguyện vọng của cháu D3 muốn được sống với cha.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết bị đơn ông Võ Hùng D vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Nên ông D không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Bà Trần Thị H và ông Võ Hùng D chung sống với nhau từ năm 1997, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện sống ly thân, không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị H. Về con chung: xét nguyện vọng của cháu Võ Văn D3 có nguyện vọng được sống với ông D, hiện cháu D3 cũng đang sống với cha, bà H đồng ý để ông D tiếp tục nuôi dưỡng. Nên giao con chung Võ Văn D3, sinh 08/12/2008 cho ông D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:

Trần Thị H khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xin ly hôn và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung với ông Võ Hùng D trú tại Thôn L, xã P, huyện N. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là ông Võ Hùng D trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên họp, hòa giải đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù có mặt tại địa phương và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định của pháp luật.

  1. Nội dung khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Võ Hùng D chung sống với nhau từ năm 1997, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 29/4/2005 đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, ông D bỏ mặc, không quan tâm đến vợ con, hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (được chính quyền địa phương xác nhận). Mặt khác, ông D đã được thông báo và biết được việc khởi kiện cũng như các nội dung yêu cầu của bà H nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại Tòa án, từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chứng tỏ ông D không còn quan tâm, không muốn hàn gắn lại tình cảm với bà H làm cho hôn nhân vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị được ly hôn với ông D là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là Võ Thị D1, sinh 1998; Võ Văn D2, sinh 2002 và Võ Văn D3, sinh 08/12/2008. Các con chung D1, D2 đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được. Riêng con chung Võ Văn D3 hiện đang sống với ông D. Xét nguyện vọng của cháu D3 có nguyện vọng được sống với ông D, mặt khác bà H cũng thống nhất giao cháu D3 cho ông D nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cháu D3 cho ông D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của bà H.

  1. Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Võ Hùng D.
  2. Về con chung: Giao cháu Võ Văn D3, sinh 08/12/2008 cho ông Võ Hùng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001148, ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà H đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/8/2024), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phước Vinh;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger