TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số:71/2024/DS-PT Ngày: 21/06/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các thẩm phán:
Ông Phạm Đình Thanh
Bà Lê Thị Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 66A/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐ-PT ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Phan Kiều D, sinh năm 1976 và bà Phù Thị Ngọc T, sinh năm 1976. Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn M: Luật sư Trần Văn S – Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K, địa chỉ: Số B đường S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Phan Kiều D và bà Phù Thị Ngọc T trình bày:
Vợ chồng ông bà có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị X vay tiền nhiều lần. Đến ngày 27/11/2022 hai bên chốt nợ đã vay là 800.000.000đ, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 01%/tháng và ông M, bà X có ký hợp đồng vay tiền ngày 27/11/2022 và tiến hành xé bỏ các giấy vay tiền cũ.
Sau đó đến ngày 03/01/2023, ông bà có yêu cầu ông M, bà X trả nợ theo thỏa thuận thì bà X có đến gặp ông bà xin gia hạn nợ thêm 01 tháng nữa và xin vay thêm số tiền 384.000.000 đồng. Sau đó, ông bà có lập giấy vay tiền mới chốt nợ tổng là 1.184.000.000đ, bao gồm: 800.000.000đ tiền vay cũ và 384.000.000đ tiền vay mới.
Tuy nhiên số tiền vay thêm này ông bà chỉ đưa riêng bà X và mặc dù giấy vay ghi tên 02 vợ chồng nhưng chỉ có bà X ký hợp đồng vay tiền. Do vậy ông bà xác định khoản nợ sau này là tiền vay riêng của bà X.
Do vậy, nay ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị X phải trả cho ông bà số nợ đã vay là 800.000.000đ.
- - Buộc bà Phạm Thị X phải trả cho ông bà số nợ đã vay là 384.000.000đ.
Ngày 19/5/2023, nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Đối với chồng bà X là ông Nguyễn Văn M, vì khi cho vay ông bà chỉ giao tiền cho bà X và bà X cũng nói với ông bà mục đích vay tiền để làm ăn riêng nên ông bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ khởi kiện bà X thanh toán toàn bộ khoản nợ là 1.184.000.000đ, không yêu cầu lãi.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn phải trả cho bị đơn bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 252414, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00673 do UBND thị xã C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/4/2008 cho ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị X, nguyên đơn không đồng ý yêu cầu này.
* Bị đơn bà Phạm Thị X trình bày:
Bà thừa nhận có nhiều lần vay của ông D, bà T, tuy nhiên tổng cộng số tiền bà vay là 90.000.000 đồng cụ thể như sau:
- + Vào ngày 03/3/2022 âm lịch, vay số tiền 20.000.000 đồng.
- + Khoảng hai tháng sau, vay thêm số tiền 10.000.000 đồng.
- + Khoảng tháng 9 âm lịch, vay số tiền 30.000.000 đồng để đóng lãi.
- + Tháng 10 âm lịch, vay 30.000.000 đồng để trả nợ.
Bà có viết hợp đồng vay tiền vào ngày 27/11/2022 và ký giấy, mang tờ
giấy ra bệnh viện cho ông M ký tên. Ban đầu chỉ ghi số tiền vay là 8.000.000 đồng bằng chữ, chứ ghi số tiền nhiều sợ ông M không ký. Sau đó, bà mang tờ giấy về cho bà T, bà T ghi thêm số, bà xác nhận bà ghi chữ “Tám trăm triệu” bằng chữ. Bà chỉ nhận số tiền 90.000.000 đồng, ông M không biết và bà không đưa số tiền này cho ông M. Bà T là người trực tiếp giao tiền, nhận tiền mặt từng lần theo thời gian đã khai.
Ngoài ra, bà còn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 252414 của bà và ông M cho nguyên đơn để đảm bảo số tiền vay. Do đó, bà cùng chồng là ông Nguyễn Văn M có yêu cầu phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải trả cho bà và ông Nguyễn Văn M bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ AH 252414, số vào sổ cấp GCN: H00673 do UBND thị xã C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/4/2008 cho ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị X.
Tại phiên tòa, bà X xác nhận các chữ ký đứng tên bà trong các hợp đồng vay tiền như nguyên đơn yêu cầu là của bà. Lúc thực hiện giao dịch vay tiền chỉ có mặt bà và bà T, không có ai làm chứng. Lúc ký tên bà đã thấy các khoản tiền trên hợp đồng vay là không đúng nhưng bà T nói là không có sao và liên tục đe dọa buộc bà phải ký tên. Vì tin lời bà T và do bị ép buộc nên bà đã ký vào các hợp đồng vay tiền chứ thực tế số tiền vay chỉ là 60.000.000 đồng tiền gốc và 30.000.000 đồng tiền lãi. Bà T có đưa các hợp đồng trên để bà gửi cho ông M ký nhưng vì sợ nên bà không đưa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (trước đây là yêu cầu phản tố) ông Nguyễn Văn M trình bày:
Ông là chồng của bà Phạm Thị X. Ông không biết gì đến việc bà X vay tiền của bà T, ông D, không biết vay tổng cộng bao nhiêu tiền, nhận tiền khi nào. Còn về hợp đồng vay tiền, ông cũng không biết gì hết, ông không biết việc bà X đưa giấy cho ông ký vay tiền hay không, chỉ nhớ có một lần ký giấy vay tiền số tiền 8.000.000 đồng, không biết vay của ai. Bà X nói ký dùm để vay 8.000.000 đồng trả tiền hàng, ông không nhận số tiền gì hết.
Ông không biết việc bà X cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao cho bà T, ông D. Tháng 3/2023, vì có việc nên ông mới tìm lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nhưng không tìm ra nên hỏi bà X nhiều lần, bà X mới khai là lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi cầm cố cho khoản tiền vay của ông D, bà T.
Do đó, ông và vợ là bà X có yêu cầu nguyên đơn phải trả cho ông bà bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 252414, số vào sổ cấp GCN: H00673 do UBND thị xã C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/4/2008 cho ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị X.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn M đề nghị hội đồng xét xử xem xét bà X chỉ là một người buôn bán nhỏ ngoài chợ, không thể có nhu cầu vay số tiền lớn như vậy từ phía nguyên đơn, bên cạnh đó, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc giao số tiền 1.184.000.000 đồng cho bà X thế nào. Do đó lời khai của bà X về
việc vay số tiền 90.000.000 đồng là phù hợp. Về yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập về việc đòi sổ đỏ thì nguyên đơn đã chấp nhận nên không ý kiến gì. Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn M, phải trả số nợ 800.000.000 đồng (cùng bà Phạm Thị X).
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị X phải trả cho ông Phan Kiều D, bà Phù Thị Ngọc T số tiền nợ đã vay là 1.184.000.000₫
- - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc ông Phan Kiều D và bà Phù Thị Ngọc T phải trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị X bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 252414, số vào sổ cấp GCN H00673, do UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/4/2008 cho hộ ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị X.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 20 và 29/7/2023, bị đơn bà Phạm Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo không đồng ý với số tiền mà bản án sơ thẩm buộc bà X phải trả cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn cho rằng chỉ vay của nguyên đơn số tiền 90.000.000đồng nhưng nguyên đơn đã ép buộc, đe dọa buộc bị đơn ký vào 02 giấy vay tiền nêu trên. Đối với chữ ký của ông Nguyễn Văn M là do bị đơn ký và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà X tự ý giao cho nguyên đơn mà không có sự đồng ý của ông M. Vì vậy, bà X chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 90.000.000đồng và yêu cầu nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M xác định không biết bà X vay và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn nên ông M không đồng ý trả số tiền trên và yêu cầu nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy bà X là người ký và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn nhưng ông M không ký và không biết sự việc trên. Mặt khác, bà X không chứng minh được việc bị nguyên đơn đe dọa, cưỡng ép ký vào giấy vay tiền. Vì vậy, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 10/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vụ án. Ngày 20/7/2023, bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn M kháng cáo Bản án sơ thẩm. Như vậy, kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo:
[2.1]Về nội dung:
Theo Hợp đồng vay tiền ngày 27/11/2022, bà Phạm Thị X vay của ông Phan Kiều D, bà Phù Thị Ngọc T 800.000.000đồng, thời hạn vay 01 tháng (đến ngày 27/12/2022). Sau đó, bà X vay thêm số tiền 384.000.000đồng và ký lại Hợp đồng vay tiền ngày 03/01/2023 với tổng số tiền hai lần vay là 1.184.000.000đồng. Thời hạn trả 01 tháng (đến ngày 03/02/2023). Khi ký giấy vay tiền, nguyên đơn đã nhận của bà X bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin cho số tiền vay. Sau khi vay, bà X không thực hiện đúng cam kết trả tiền nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà X phải trả số tiền đã vay.
[2.2] Bị đơn cho rằng không vay số tiền 1.184.000.000đồng và việc bị đơn ký vào 02 giấy vay tiền là do nguyên đơn đe dọa, ép buộc:
Bị đơn chỉ thừa nhận vay của nguyên đơn số tiền 90.000.000đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác định các chữ ký trong Hợp đồng vay đúng là bị đơn ký. Bị đơn cũng thừa nhận Hợp đồng vay tiền ngày 27/11/2022, có chữ ký của ông Nguyễn Văn M (chồng bà) là do bà giả chữ ký của ông M. Theo Kết luận giám định số 196/2023/KL-KTHS ngày 12/5/2023 xác định chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn M không phải do cùng một người ký và viết ra. Như vậy, chứng minh Hợp đồng vay ngày 27/11/2022, bà X giả chữ ký của ông M và bà X không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc bị đe dọa, cưỡng ép ký vào hai giấy vay tiền nêu trên nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 1.184.000.000đồng là có cơ sở.
Đồng thời, theo lời trình bày của bà X và kết luận giám định chứng minh rằng ông M không ký và không biết việc bà X vay số tiền này nên không có cơ sở buộc ông M cùng chịu trách nhiệm trả nợ cùng với bà X.
[2.3] Đối với việc nguyên đơn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn:
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 252414, số vào sổ cấp GCN H00673, do UBND thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/4/2008 cho thấy đây là tài sản chung của ông M, bà X. Tuy nhiên, ông M không biết và không đồng ý để bà X giao giấy chứng nhận cho nguyên đơn để đảm bảo việc vay tiền. Do đó, ông M không có nghĩa vụ cùng bà X trả nợ nên việc nguyên đơn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M. Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của ông M về việc buộc nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà X và ông M và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm:
Bà X và ông M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
* Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị X1 và ông Nguyễn Văn M mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002548, AA/2023/0002549 ngày 10/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà X1 và ông M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
Bản án số 71/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 71/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
