|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/DS-PT
Ngày 31-5-2024
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan | |
| Các Thẩm phán: | 1. Ông Ngô Đê |
| 2. Bà Ngô Thị Kim Châu |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLPT-DS, ngày 16/4/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 05/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐ-PT, ngày 09/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1973 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp H, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1951 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn H1, sinh năm 1963, nơi cư trú: Số B, ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Văn bản ủy quyền ngày 16/10/2023 - có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lưu Thị Ú, sinh năm 1975 (vắng mặt);
- Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Chị Huỳnh Thị Như N1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp H, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà Ú, chị T, chị N1: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1973 cùng nơi cư trú: ấp H, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (Văn bản ủy quyền ngày 14/6/2023) (có mặt).
- Ông Huỳnh Kim P, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp H, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1954 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Phạm Thị Thu V, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Ông Phạm Văn S, sinh năm 1951 (vắng mặt);
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1965 (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1969 (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị Kim H2, sinh năm 1973 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị Ngọc C, sinh năm 2001 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị Hoàng N2, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Anh Phạm Trường G, sinh năm 1989 (vắng mặt);
- Anh Phạm Trường S1, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Chị Phạm Thị L, sinh năm 1986 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị T4, sinh năm 1976 (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị T5, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, khóm B, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người kháng cáo: Bà Phạm Thị N là bị đơn, ông Phạm Văn T1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Thanh H trình bày:
Vào năm 2016, ông Huỳnh Kim P là anh của ông có tặng cho ông quyền sử dụng đất diện tích 5.392,9m², thuộc thửa 84, tờ bản đồ 67, loại đất CLN, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, ông đã được Sở T7 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2016. Nguồn gốc đất do ông P nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn T6 (anh ruột bà N). Giáp ranh với phần đất của ông H là thửa 362 do bà Phạm Thị N đang quản lý sử dụng. Trong quá trình sử dụng ông H phát hiện bà N tự ý cậm trụ ranh lấn sang đất của ông H, ông H có đo lại thì phần đất của ông bị thiếu so với giấy được cấp là 640,9m² (9,5m x 67,46m). Ông có trao đổi với bà N để trả đất nhưng bà N không đồng ý. Nay, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị N phải trả lại cho ông H quyền sử dụng đất diện tích 640,9m² (chiều ngang 9,5m x chiều dài 67,46m), thuộc một phần thửa 84, loại đất cây lâu năm tờ bản đồ 67, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Huỳnh Thanh H chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị N trả lại ông diện tích 437,8m² (phần A); phần còn lại ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện với diện tích 203,10m² không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Bà không đồng ý yêu cầu của ông H vì phần đất mà ông H tranh chấp với bà là của anh em bà do bà đại diện quản lý sử dụng. Nguồn gốc đất là của cha mẹ bà để lại, anh em bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 362 diện tích 1.264,2m² tờ bản đồ số 67 tọa lạc ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Trên đất tranh chấp có dừa và chuối do bà trồng; gia đình bà đã sử dụng phần đất này từ trước đến nay. Còn thửa 84 có nguồn gốc của ông T6 chuyển nhượng cho ông P không có diện tích 640,9m² đang tranh chấp nêu trên. Vì khi ông P nhận chuyển nhượng từ ông T6 thì ông P có đào 01 cái mương có chiều ngang khoản 01m chạy dài ra đến mé sông là để làm ranh giới và không cho rễ dừa nhà bà N ăn qua đất của ông P, hiện nay cái mương này vẫn còn. Đến năm 2016 ông P tặng cho lại cho ông H thì ông H cũng chỉ sử dụng từ cái mương này trở qua thửa đất 84 của ông H mà thôi. Nay, ông Huỳnh Thanh H yêu cầu bà N trả lại phần đất có diện tích 640,9m² (chiều ngang 9,5m x chiều dài 67,46m), thuộc một phần thửa 84, tờ bản đồ 67 cho ông H thì bà N không đồng ý. Vì, phần đất đang tranh chấp nằm trong thửa 362 của anh em bà N, do bà N đại diện đứng tên và quản lý sử dụng.
Bà Phạm Thị Thu V, ông Phạm Văn T1 thống nhất theo trình bày của bà Phạm Thị N.
Ông Huỳnh Kim P cũng có lời trình bày giống như ông Huỳnh Thanh H.
Tại bản án số 43/2023/DS-ST ngày 05/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh đã xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh H.
Buộc bà Phạm Thị N phải có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Thanh H quyền sử dụng đất diện tích 437,8m² (theo sơ đồ bản vẽ là phần A) thuộc một phần thửa đất số 84 loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ 67, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (tài liệu đo đạc năm 2004), do ông Huỳnh Thanh H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có các cây cối như dừa, chuối.
Buộc ông Huỳnh Thanh H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phạm Thị N số tiền 7.250.000đ giá trị các cây trồng có trên đất (có trên phần A).
Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 203,1m² mà ông Huỳnh Thanh H đã rút yêu cầu.
Đối với phần A2 diện tích = 42,1m² thuộc đất công cộng (đất Sông) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tứ cận thửa đất, lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/9/2023 bà Phạm Thị N kháng cáo và ngày 15/9/2023 ông Phạm Văn T1 kháng cáo. Nội dung kháng cáo, bà N, ông T1 yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông H; công nhận quyền sử dụng đất cho bà N diện tích 437,8m² (phần A) thuộc một phần thửa số 84, tờ bản đồ số 67, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Huỳnh Thanh H thừa nhận khi ông P tặng cho đất ông có chỉ ranh đất giáp thửa số 362 của bà N là cái mương do ông P đào sau khi nhận chuyển nhượng đất. Lời khai của ông P cũng xác nhận con mương làm ranh đất. Phần đất tranh chấp từ trước đến nay đều do bà N sử dụng, ông P, ông H không có sử dụng. Việc chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất nhưng không được cơ quan chuyên môn đo đạc diện tích thực tế chuyển nhượng. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T7 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Thành H4 tại thửa 84 không có đo đạc kiểm tra thực tế thửa đất nên có một phần không đúng đối tượng sử dụng đất. Từ những phân tích trên, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh H là không căn cứ, kháng cáo của bà Phạm Thị N, ông Phạm Văn T1 là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án sơ thẩm số 43/2023/DSST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, đất tranh chấp toạ lạc tại thành phố T, tỉnh Trà Vinh nên Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung vụ án: thửa đất số 84 diện tích 5392,9m², tờ bản đồ 67, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh được hợp thành từ thửa 605 diện tích 1.680m², thửa 610 diện tích 580m², thửa 611 diện tích 3400m² có tổng diện tích 5.660m² (theo tư liệu năm 1991) có nguồn gốc của ông Phạm Văn T1 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Kim P vào năm 2010. Trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 84 có Tờ tường trình ngày 20/01/2010 của ông Phạm Văn T1 xác nhận diện tích đất của 03 thửa 605, 610, 611 giảm so với giấy được cấp là 267,1m², diện tích còn lại 5.392,9m² hợp thành thửa 84. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng đất một thời gian. Đến năm 2016 thì ông P tặng cho ông Huỳnh Thanh H toàn bộ thửa đất số 84. Sau khi được tặng cho ông H tự đo đạc và xác định phần đất được tặng cho không đủ diện tích so với quyền sử dụng đất được cấp nên khởi kiện bà N.
- [3] Tại Công văn số 829/CNTPTV ngày 30/6/2022 xác định diện tích tranh chấp thực đo gồm phần A diện tích = 437,8m² thuộc thửa 84 của ông Huỳnh Thanh H
- [4] Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/5/2022 (BL 211) ông Huỳnh Kim P khai: “Lúc mua ông T1 có chỉ tử cận và cặm trụ, khi tôi tặng cho ông H tôi có chỉ tứ cận cho ông H, khi đó còn trụ tài sản trên đất tranh chấp lúc tôi mua từ ông T1 là do bà N đang sử dụng (dừa đang cho trái)... Khi cắm trụ đá xong thì trong quá trình sử dụng tôi có đào cái mương có chiều ngang khoảng 1m, dài khoảng 10m, sâu khoảng 1m phía giáp đất bà N sử dụng, tôi đào từ trụ đá bỏ ra vài tấc (khoảng 6-7 tấc) theo chiều ngang rồi tôi mới đào cái mương”. Tại biên bản đối chất ngày 11/7/2023 ông P trình bày (BL 279-280): “Tôi xác định khi chuyển nhượng có đo giao đất, đo giao nhiều hơn diện tích mà tôi nhận chuyển nhượng trên giấy, có chính quyền ấp và địa chính xã đến nhưng hai bên cự cãi nên chính quyền bỏ về, chỉ có hai bên mua bán thỏa thuận cặm trụ đá...khi tôi tặng cho em H trụ đá vẫn còn. Diện tích ghi trên giấy là 5.392,9m² nhưng ông T1 đo giao đất cho tôi khoảng 7.000m² phía giáp đất đang tranh chấp có cặm trụ đá (ranh là trụ đá và tôi có đào cái mương)...Tôi xác định là tôi có đào (mướn xe cuốc) đào một cái mương để làm ranh giới có kích thước ngang khoảng 1m dài khoảng 10m tới mé xẻo và hiện nay cái mương này vẫn còn. Tính từ mí mương này chiếu theo chiều ngang qua đến ranh trụ đá còn khoảng 7 tấc cũng là đất tôi mới tới ranh đất giáp đất gia đình ông T1 (tức đất bà N)”. Lời khai của ông P phù hợp với lời khai của bà N, ông T1 ranh đất thửa 362 của bà N và thửa 84 của ông H được xác định là có cái mương do ông P đào để làm ranh giới. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm, ông H cũng thừa nhận khi ông P tặng cho đất ông có chỉ ranh đất giáp bà N là cái mương, quá trình sử dụng ông có thuê xe cuốc mở thêm chiều dài của con mương, sau khi sử dụng đất 3 năm, ông mới phát hiện diện tích đất bị thiếu nên khởi kiện đòi lại.
- [5] Như vậy, có đủ căn cứ cho thấy, các bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đều có ghi diện tích cụ thể là 5.392,9m² thuộc thửa 84 nhưng không có cơ quan chuyên môn đo đạc diện tích đất thực tế chuyển nhượng, mà do các bên tự xác định nên không đúng với ranh giới diện tích được cấp trên giấy. Do trong quá trình đo giao đất và sử dụng đất không đúng ranh giới thửa đất mà ông P nhận chuyển nhượng từ ông T1, đến khi ông P tặng cho ông H sử dụng cũng tặng cho trên giấy, không đo đạc thực tế nên không phát hiện diện tích thực tế sử dụng ít hơn so với quyền sử dụng được cấp.
- [6] Tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự quy định về ranh giới giữa các bất động sản “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền..”. Đối chiếu với quy định trên cho thấy thời điểm ông P nhận chuyển nhượng đất của ông T1, giữa ông T1, ông P đã thỏa thuận ranh đất cặm trụ đá, và ông P có đào con mương, con mương này hiện nay vẫn còn, đây là ranh theo thỏa thuận. Phần đất tranh chấp diện tích 437,8m² (phần A theo sơ đồ bản vẽ) thuộc thửa số 84 là do bà N sử dụng từ trước đến nay, quá trình sử dụng bà N có trồng dừa và chuối, ông P, ông H ở gần đó biết nhưng không ngăn cản. Do ông P không sử dụng phần đất tranh chấp nên khi ông P tặng cho lại ông H có chỉ ranh đất thì cũng không có phần đất này. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T7 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Thành H4 tại thửa 84 không có đo đạc kiểm tra thực tế thửa đất nên có một phần không đúng đối tượng sử dụng đất.
- [7] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H4, buộc bà N phải trả lại phần đất diện tích 437,9 m² cho ông H4, buộc H4 thanh toán giá trị cây trồng trên đất cho bà N là không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và quy định pháp luật.
- [8] Xét kháng cáo của bà Phạm Thị N, ông Phạm Văn T1 yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà N diện tích 437,8m² (phần A) thuộc một phần thửa số 84, tờ bản đồ số 67, tọa lạc tại ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bà N không đặt ra yêu cầu này, tòa án sơ thẩm không giải quyết do đó căn cứ Điều 5, Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, cấp phúc thẩm không giải quyết.
- [9] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị ngừng phiên tòa để khảo sát lại toàn bộ diện tích đất của thửa số 84, Hội đồng xét xử xét thấy thửa số 84 đã được đo đạc, có sơ đồ, kích thước cụ thể, việc đo đạc lại là không cần thiết, nên không chấp nhận.
- [10] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh H là phù hợp với quy định pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “ Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, tòa án phúc thẩm xác định lại nghĩ vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật này ”. Do Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Huỳnh Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn T1, bà Phạm Thị N.
Sửa bản án sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh H.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc ông Huỳnh Thanh H phải chịu 13.729.400 đồng, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng là 15.000.000 đồng, ông H liên hệ Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh để nhận lại số tiền còn lại là 1.270.600 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Huỳnh Thanh H phải chịu 300.000 được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007384 ngày 29/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, ông H được nhận lại số tiền chênh lệch 2.700.000đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |
Bản án số 71/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 71/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Huỳnh Thanh H với Phạm Thị N
