|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH Bản án số 71/2023/HS-ST Ngày 21 tháng 11 năm 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Công Hiến.
- Ông Hà Xuân Ninh.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/TLST- HS ngày 03/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST- HS ngày 08/11/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn S, tên gọi khác: không, sinh năm 1974 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn D và bà Nguyễn Thị S1 (đều đã chết); vợ là Đỗ Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 18, ngày 19/5/2023 bị Công an xã G, huyện G xử phạt cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/6/2023, chuyển tạm giam ngày 29/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Mai Diệu L, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
Người làm chứng: ông Phạm Văn N và Nguyễn Văn B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn S sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 8 năm 2022 đến nay. Khoảng 19 giờ ngày 22/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, S điều khiển xe máy điện biển kiểm soát MĐ1-079.62 đi từ nhà ở thôn H, xã G đến khu vực cầu M thuộc địa phận xã T, huyện H để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khu vực trên, S nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đứng một mình bên đường nên điều khiển xe đến gần và nói: “bán cho em hai trăm”, ý hỏi mua 200.000 đồng ma túy, loại Heroine, đồng thời S lấy ra số tiền 200.000 đồng đưa cho người đàn ông đó. Người này cầm tiền và đưa lại cho S 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng, xác định là H1, S bỏ gói ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe máy điện đi về nhà. Khi đến khu vực cánh đồng phần trăm thuộc thôn H, xã G, S dừng xe bên đường và lấy ra 01 mảnh giấy bạc mầu vàng, 01 chiếc bật lửa ga rồi sử dụng một phần heroine vừa mua được bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, S vứt mảnh giấy bạc và bật lửa ga xuống mương nước gần đó. Số heroine còn lại, Sinh gói lại như ban đầu trong mảnh giấy bạc mầu trắng, bỏ vào túi quần đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe đi về. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi S điều khiển xe máy điện đến trục đường thôn H, xã G thì gặp tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, S tự nguyện lấy từ túi quần ra giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng và khai nhận đó là heroine, S mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong gói ma túy có đặc điểm nêu trên của S. Ngoài ra lực lượng Công an còn thu giữ 01 xe máy điện biển kiểm soát 35MĐ1- 079.62. Sau đó lực lượng Công an đã đưa S cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Mai Văn S, có khối lượng là 0,137 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 548/KL-KTHS-MT ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1378 gam là ma túy, loại Heroine.
Heroine có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKS-GV ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Mai Văn S ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Mai Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn S từ 18 tháng đến
21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 22/6/2023.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 548/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0982 gam là ma túy, loại Heroin, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo S phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời nhận tội của bị cáo S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 548/KL-KTHS-MT ngày 29/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 15 phút, ngày 22/6/2023, tại khu vực trục đường thôn H, xã G, huyện G, Mai Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,1378 gam Heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.
[2] Bị cáo Mai Văn S là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) ......
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, ADMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 05gam.
Như vậy, khối lượng ma tuý loại Heroine mà bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo S có một tiền sự ngày 19/5/2023 bị Công an xã G, huyện G xử phạt cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguyên hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo S đã tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo S mua ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 phong bì ghi số 458/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0982 gam là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng. Do vậy căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy điện biển kiểm soát 35MĐ1- 079.62, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Mai Diệu L, sinh năm 2002, trú tại thôn H, xã G, huyện G (là
cháu của bị cáo S). Ngày 22/6/2023, bị cáo mượn xe máy điện đi mua ma túy, chị L không biết. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe máy điện trên cho chị L là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 01 mảnh giấy bạc mầu vàng và 01 chiếc bật lửa ga, Mai Văn S dùng để sử dụng ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành truy tìm, nhưng không thu giữ được.
[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo S khai nhận sáng ngày 22/6/2023 tại khu vực cầu M thuộc địa phận xã T, huyện H, bị cáo đã mua ma tuý của người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: bị cáo Mai Văn S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 548/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0982 gam là ma túy, loại Heroine,
toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc mầu trắng kích thước (4x4)cm, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.
3. Về án phí: bị cáo Mai Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 71/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn Sinh PT tàng trữ trái phép chất ma túy
