Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2022/DS-ST

Ngày: 09/8/2022

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thường;
  2. Ông Trần Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2022/TLST-DS ngày 13/4/2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2022/QĐXXST-DS ngày 30/6/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 161/2022/QÐST-DS ngày 20/7/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K

Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà Sailing Tower – 111 A Pasteur, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Là nguyên đơn.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ: Bà Trần Thị Thu H – Chức vụ: GĐTTQLNNHBL. Số điện thoại: 0911.366.xxx

Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà tham gia tố tụng:

  • Ông Lê Huy A, chức vụ: Cán bộ ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam. (vắng mặt)
  • Ông Đặng Bửu Đ, chức vụ: Cán bộ ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam. (vắng mặt)
  • Ông Lê Quang F, chức vụ: Cán bộ ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam. (có mặt)

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đông Sơn 1, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0332.234.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K do ông Lê Quang F là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 09/7/2020, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K chi nhánh An Giang - PGD Thoại Sơn có cho ông Nguyễn Văn R vay số tiền là 173.000.000 đồng, hai bên có tiến hành ký kết Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020. Nội dung cụ thể như sau: Mục đích vay vốn: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO TOWNER990; Thời hạn vay: 72 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 10/7/2026; Lãi suất là 12,1%/năm, mức lãi suất này được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,5%/năm. Ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: ngày 10, kỳ trả đầu tiên vào ngày 10/08/2020. Hoàn trả lãi hàng tháng: ngày 10. Trả phí: Theo quy định của VIB từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Ngoài ra, ông R còn ký với Ngân hàng 01 Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8475916.20 vào ngày 09/7/2020. Theo đó ông R có thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô THACO TOWNER990, BKS: 67C-132.66 để bảo đảm cho khoản vay 173.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020.

Ngày 10/7/2020 ông Nguyễn Văn R đã nhận đủ số tiền vay là 173.000.000 đồng. Đến tháng trả nợ thứ 13, ông R không trả đủ gốc lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Dư nợ gốc đến ngày 23/11/2021 là 144.200.000 đồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ ngày 24/11/2021 đến trước ngày 11/02/2022 bị đơn có trả được 16.000.000 đồng tiền nợ gốc. Do đó, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 16.000.000 đồng nợ gốc này.

Từ ngày 11/2/2022 đến nay ông Nguyễn Văn R không trả được số tiền nào nữa. Quá trình thực hiện hợp đồng, do không trả được nợ đến hạn nên khoản vay của ông Nguyễn Văn R đã bị chuyển nợ quá hạn. Kể từ khi khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Nguyễn Văn R thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn R vẫn vi phạm các cam kết nghĩa vụ trả nợ.

Nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn R phải trả thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày xét xử (ngày 09/8/2022) là 149.860.662 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm sau smươi ngàn, sáu trăm sáu mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 128.200.000 đồng và nợ lãi là 21.660.662 đồng (nợ lãi trong hạn: 8.060.145 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.600.517 đồng).

Yêu cầu ông Nguyễn Văn R phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ sau ngày xét xử cho đến khi ông Nguyễn Văn R trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.

Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu THACO TOWNER990, BKS: 67C-132.66. Sau khi khách hàng Nguyễn Văn R hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn R đã được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tổ tụng để ông thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu cầu của nguyên đơn, nhưng ông Nguyễn Văn R vẫn vắng mặt không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến của ông Tài.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn R có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K tổng số tiền vốn và lãi tính đến xét xử (ngày 09/8/2022) là 149.860.662 đồng, trong đó: Nợ gốc là 128.200.000 đồng và nợ lãi là 21.660.662 đồng (nợ lãi trong hạn: 8.060.145 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.600.517 đồng). Buộc ông Nguyễn Văn R tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng kể từ ngày 10/8/2022 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo hợp đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đình chỉ một phần yêu cầu trả nợ của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc16.000.000 đồng do nguyên tự nguyện rút. Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8475916.20 vào ngày 09/7/2020 với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô THACO TOWNER990, BKS: 67C-132.66 để bảo đảm cho khoản vay 173.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 do nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại đơn khởi kiện Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn R phải trả nợ khoản vay tín chấp để thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO TOWNER990 dựa trên Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020. Do đó, tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Do vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn R là hợp pháp, vì thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định giao dịch dân sự nói chung (Điều 117 Bộ luật dân sự) cũng như các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nên có giá trị bắt buộc với các bên tham gia giao dịch.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.2.1] Xét yêu cầu bị đơn trả khoản tiền nợ gốc:

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 thì bị đơn phải trả số tiền gốc và tiền lãi định kỳ vào ngày 10 của mỗi tháng, trả trong vòng 72 tháng, 71 tháng đầu trả gốc hàng tháng là 2.400.000 đồng, tháng cuối trả gốc là 2.600.000 đồng. Ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: ngày 10, kỳ trả đầu tiên vào ngày 10/8/2020. Đến tháng trả nợ thứ 13 ông Nguyễn Văn R đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn đã trả thêm được số tiền nợ gốc là 16.000.000 đồng, trại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc16.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu bị đơn trả số tiền 16.000.000 đồng của của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và có lợi cho bị đơn nên căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 16.000.000 đồng (do bị đơn đã trả) của nguyên đơn.

Tháng trả nợ thứ 19 ông R không trả vốn lãi gì nữa nên khoản nợ bị chuyển sang nợ quá hạn; Tính đến ngày 11/02/2022 dư nợ gốc còn lại là 128.200.000 đồng thuộc trường hợp quá hạn thanh toán. Do đó, theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463 Bộ luật dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K về việc đòi nợ gốc là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[2.2.2] Về khoản nợ lãi:

Tại Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 các bên thỏa thuận lãi suất cho vay 12,1%/năm, mức lãi suất này được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lịch trả lãi trùng với ngày trả nợ gốc. Do bị đơn không trả nợ đến hạn, nguyên đơn đã chuyển nợ gốc và nợ lãi sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/8/2022) thì tổng số tiền nợ lãi là 21.660.662 đồng (nợ lãi trong hạn: 8.060.145 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.600.517 đồng).

Xét hợp đồng tín dụng được xác lập và thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, phù hợp quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tính tiền lãi đến ngày 09/8/2022 (ngày xét xử sơ thẩm) là 21.660.662 đồng là có cơ sở.

Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Văn R phải thanh toán tổng số tiền vốn và lãi tính đến xét xử (ngày 09/8/2022) là 149.860.662 đồng, trong đó: Nợ gốc là 128.200.000 đồng và nợ lãi là 21.660.662 đồng (nợ lãi trong hạn: 8.060.145 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.600.517 đồng).

[2.2.3] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/8/2022) cho đến khi ông Nguyễn Văn R trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 và Án Lệ số 08/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2.4] Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8475916.20 vào ngày 09/7/2020 với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô THACO TOWNER990, BKS: 67C-132.66 để bảo đảm cho khoản vay 173.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 do nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bị đơn Nguyễn Văn R hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng phải tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí là 5% giá ngạch giá trị tài sản tranh chấp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4, Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án Lệ số 08/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc 16.000.000 đồng (do bị đơn đã trả) của nguyên đơn.

2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnNgân hàng Thương Mại Cổ Phần K: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn R phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K tổng số tiền vốn và lãi tính đến xét xử (ngày 09/8/2022) là 149.860.662 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm sáu mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 128.200.000 đồng và nợ lãi là 21.660.662 đồng (nợ lãi trong hạn: 8.060.145 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.600.517 đồng).

Đối với Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8475916.20 vào ngày 09/7/2020 với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô THACO TOWNER990, BKS: 67C-132.66 để bảo đảm cho khoản vay 173.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5003685.20 ngày 09/7/2020 do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bị đơn Nguyễn Văn R hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng phải tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo theo của ngày xét xử sơ thẩm (09/8/2022), ông Nguyễn Văn R còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng 5003685.20 ngày 09/7/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Đối với số tiền lãi 21.660.662 đồng, kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn R phải nộp 7.493.033 đồng (bảy triệu, bốn trăm chín mươi ba ngàn, không trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K không phải chịu án phí nên được nhận lại 3.772.031 đồng (ba triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, không trăm ba mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009119 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2022/DS-ST ngày 09/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 71/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐTD
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger