Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ-TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 71/2021/HS-ST
Ngày: 08-11-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu; Ông Đặng Hữu Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn A; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh ngày: 14/4/1978; Nơi sinh: Nghệ An.
Nơi đăng ký HKTT: Xóm 6, xã S, huyện S, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở: đường T, phường X, quận L, tp. Đà Nẵng.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Không.
Họ và tên cha: Trần Văn M, sinh năm: 1951. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1950. Gia đình có 05 người con, bị cáo là con đầu.
Vợ: Lữ Thị H, sinh năm: 1982. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2004 và con nhỏ sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo Trần Văn A bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Huỳnh Bảo A1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: đường C2, phường Hòa X, quận L, tp. Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá S, sinh năm: 1982. Địa chỉ: đường T, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 20/4/2021, trên đường đi làm về, Trần Văn A vào bãi đất trống trên đường Trần Nam Trung để đi vệ sinh và nhìn thấy trong bãi đất có để 01 máy trộn bê tông của anh Huỳnh Bảo A1 không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp để kiếm tiền tiêu xài. Khoảng 04 giờ ngày 22/4/2021, trong lúc anh Nguyễn Bá S, là người thuê trọ cùng phòng, đang ngủ say, Anh đã ra ngoài phòng trọ, lấy xe bò của anh Sơn kéo đến khu vực bãi đất trống trên đường Trần Nam Trung. Tại đây, Anh kéo xe bò lên vỉa hè, để sát máy trộn bê tong rồi luồn phần đuôi xe vào ô trống giữa chân càng trước và bánh xe của máy trộn bê tong, sau đó dùng dây dù có sẵn trên xe bò cột cố định xe bò và máy trộn lại rồi kéo xuống đường Trần Nam Trung đi về hướng đường Đô Đốc Lộc tìm nơi tiêu thụ. Đi được một đoạn khoảng 300m thì bị tổ tuần tra Công an phường Hòa Xuân phát hiện, bắt quả tang.

Tang vật thu giữ: 01 máy trộn bê tông gắn mô tơ điện và 01 xe bò kéo.

Kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐGTS ngày 18/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cẩm Lệ xác định, 01 máy trộn bê tông gắn mô tơ điện tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 2.590.000đ.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 66/CT-VKSCL ngày 12/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Trần Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn A mức hình phạt 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng:

  • Cơ quan CSĐT công an quận Cẩm Lệ trao trả lại 01 máy trộn bê tông gắn mô tơ điện cho anh Huỳnh Bảo A1 là có cơ sở.
  • Qua điều tra xác định anh Nguyễn Bá S không biết việc bị cáo sử dụng xe bò của mình để trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT công an quận Cẩm Lệ không đề cập xử lý và trao trả 01 xe bò kéo cho anh Nguyễn Bá S là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Huỳnh Bảo A1 đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là bị cáo vô cùng ân hận về hành vi của mình, và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu hồi được, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an quận Cẩm Lệ đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 04giờ 00 phút, ngày 22/4/2021, tại bãi đất trống trên đường Trần Nam Trung, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, bị cáo Trần Văn A đã có hành vi lén lút, cố ý trộm cắp 01 máy trộn bê tông của anh Huỳnh Bảo A1 trị giá 2.590.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố bị cáo Anh về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định, nhưng bất chấp hậu quả, coi thường kỷ cương pháp luật để trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có cha là thương binh, tài sản phạm tội đã thu hồi được và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó, HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; có công việc ổn định; có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nên theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, không cần thiết cách ly khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo để cơ hội tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo: Trần Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
    Xử phạt: bị cáo Trần Văn A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách: 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng giám sát, giáo dục.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- VKSND quận Cẩm Lệ;
- TAND tp. Đà Nẵng;
- VKSND tp. Đà Nẵng;
- Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;
- Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;
- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
- Sở Tư pháp tp. Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Hữu Hưng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2021/HS-ST ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 71/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Trần Văn A; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh ngày: 14/4/1978; Nơi sinh: Nghệ An. Nơi đăng ký HKTT: Xóm 6, xã S, huyện S, tỉnh Nghệ An. Nơi ở: đường T, phường X, quận L, tp. Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Không. Họ và tên cha: Trần Văn M, sinh năm: 1951. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1950. Gia đình có 05 người con, bị cáo là con đầu. Vợ: Lữ Thị H, sinh năm: 1982. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2004 và con nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo Trần Văn A bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. - Bị hại: Anh Huỳnh Bảo A1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: đường C2, phường Hòa X, quận L, tp. Đà Nẵng. Vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá S, sinh năm: 1982. Địa chỉ: đường T, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger