Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 709/2024/HS-PT

Ngày: 30/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam;

Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;

Ông Nguyễn Trọng Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử trực tuyến với điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân tỉnh Thanh Hóa, để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 487/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Kiều Thanh T và Nguyễn Đình T1 phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Kiều Thanh T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 28 tháng 11 năm 1950 tại: thành phố Hà Nội; Nơi thường trú và nơi ở: A H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kiều Văn V (đã chết) và bà Lê Thị T2 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Bùi T3, sinh năm 1959 (đã ly hôn); và có 01 con, sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2023 đến ngày 18/4/2023 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Nguyễn Đình T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 23 tháng 8 năm 1980 tại: tỉnh Bắc Ninh; Nơi thường trú và nơi ở: thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình T4, sinh năm 1950 và bà Trịnh Thị T5, sinh năm 1957; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con đầu; Có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1983 và có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2023 đến ngày 20/4/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân tỉnh Thanh Hóa.

* Người bào chữa cho các bị cáo:

  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Kiều Thanh T: Ông Lê Doãn L - Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh T, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T1: Bà Bùi Thị Bích P - Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh T, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 05 giờ 55 phút ngày 09 tháng 4 năm 2023, tại chốt kiểm dịch động vật km 509+350 đường M thuộc địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T bắt quả tang Phạm Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ, đạn thể thao. Tang vật phát hiện, thu giữ gồm: 03 (ba) kilôgam thuốc nổ nghi là thuốc súng đạn pháo; 100 (Một trăm) túi nilong bên trong mỗi túi chứa khoảng 100 viên kim loại nghi là hạt nổ; 50 (Năm mươi) viên đạn màu vàng, đầu đạn màu xám nghi là đạn thể thao; 50 (Năm mươi) vỏ cát tút bằng đồng.

Phạm Văn Đ khai nhận số vật chứng trên là của Đ mang từ Thành phố Hà Nội vào tỉnh Thanh Hóa để bán cho một người phụ nữ tên là X, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhằm mục đích kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ. Về nguồn gốc số vật chứng trên, Đ khai mua của Trần Văn D và Kiều Thanh T.

Căn cứ lời khai của Phạm Văn Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Đ, Trần Văn D và Kiều Thanh T phát hiện, thu giữ nhiều vật chứng liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ.

* Diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo Kiều Thanh T:

Kiều T là đối tượng chuyên nghiệp, có chuyên môn cao (do việc chế tạo hạt nổ nguy hiểm, yêu cầu có chuyên môn kỹ thuật cao), T thường xuyên chế tạo hạt nổ để bán lại cho các trường hợp khác trong hội săn bắn để kiếm lời. Khoảng năm 2018 T gặp gỡ và quen biết với Nguyễn Đình T1, biết được T1 có xưởng cơ khí gia công đồ đồng nên T đã đặt vấn với T1 sản xuất vỏ hạt nổ để Tân chế tạo hạt nổ. Từ thời gian trên đến khi bị phát hiện, T đã nhiều lần mua vỏ hạt nổ của T1 với giá 600.000đ/01kg vỏ (phôi đồng) để chế tạo hạt nổ. Sau khi mua được phôi đồng từ T1, T đem về cất giấu tại căn hầm của gia đình tại số A H, phường H, quận H, TP . và ra chợ trời (TP. Hà Nội) mua hồng hoàng (dạng cục, dạng thuốc diêm sinh), than gỗ, giấy bạc về để chế tạo hạt nổ. Với mỗi 01 kilôgam hạt nổ thì cần khoảng 01 lạng hồng hoàng. Theo công thức chế tạo, T đã cho bột hồng hoàng vào trong cối và giã nhuyễn tạo thành chất bột màu hồng, tương tự đối với than gỗ cũng được giã nhuyễn ra tạo thành bột than; sau đó Tân trộn bột hồng hoàng và bột than với nhau bằng cách cho cả hai vào trong 01 túi nilon với tỷ lệ 03 lạng bột hồng hoàng trộn với 02 đến 03 thìa bột than rồi lắc đều để tạo thành thuốc nổ, sau đó cho thuốc nổ vừa tạo thành rắc vào các phôi đồng và dùng giấy bạc (do T tự dùng máy đột tạo ra các tấm giấy bạc vừa với kích thước vỏ hạt nổ) đậy lên và lắp lại để tạo thành hạt nổ. Số hạt nổ chế tạo được, T chủ yếu dùng để sử dụng và bán cho Phạm Văn Đ. T khai đã bán cho Phạm Văn Đ nhiều lần, do số lượng nhiều nên không kiểm đếm được; T và Đ thống nhất giá cả là 40.000đ/01 túi/100 viên hạt nổ; T thừa nhận toàn bộ số hạt nổ Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Văn Đ là do Tân bán với tổng là khoảng 152 túi hạt nổ với tổng số tiền là 6.080.000₫ (sáu triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).

Việc chế tạo, mua bán hạt nổ của T đã diễn ra từ nhiều năm nay, quá trình khám xét đã thu giữ 123.120 (một trăm hai ba nghìn, một trăm hai mươi) viên hạt nổ và 198 gam thuốc nổ. K khai báo toàn bộ số thuốc nổ, hạt nổ trên là do Tân chế tạo nhằm mục đích bán kiếm lời; ngoài việc bán cho Phạm Văn Đ, T cũng bán lẻ hạt nổ thành phẩm cho nhiều đối tượng khác có nhu cầu. Trong đó bán cho bị cáo Nguyễn Đình T1, khoảng 03 túi hạt nổ với giá 50.000đ/01 túi và 01 khẩu súng săn với giá là 6.500.000đ (tổng số tiền là 6.650.000 đồng); bán cho bị cáo Nguyễn Quý T6 (không xác định được số lượng) và các đối tượng khác T không biết tên tuổi, địa chỉ, các trường hợp có nhu cầu mua lẻ đều mua trực tiếp trong quá trình săn bắn nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ.

* Diễn biễn hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đình T1:

Nguyễn Đình T1 là người làm nghề sản xuất đồ đồng tại xưởng của gia đình ở thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Do có cùng sở thích đam mê săn bắn nên từ khoảng năm 2018 T1 có gặp gỡ và quen biết với Trần Văn D và Kiều Thanh T. Quá trình tham gia săn bắn, T1 biết Kiều T là đối tượng có kinh nghiệm, chuyên nghiệp và thường xuyên chế tạo hạt nổ trái phép để bán cho những người khác trong hội. Biết được T1 có xưởng sản xuất đồ đồng, T đặt vấn đề để T1 chế tạo phôi đồng dùng làm vỏ hạt nổ để bán cho T, để Tân chế tạo hạt nổ bán cho các trường hợp khác thì được T1 đồng ý. Từ khoảng năm 2022 đến khi vụ án bị phát hiện, T1 đã chế tạo và bán vỏ hạt nổ cho T nhiều lần với giá 600.000đ/01 kilôgam. Sau khi Tân chế tạo thành hạt nổ thành phẩm, bản thân T1 cũng đã mua lại một số hạt nổ này từ T và mua thuốc nổ của Trần Văn D đem về nhà cất giấu nhằm chế tạo đạn ghém dùng cho việc săn bắn của bản thân (Cơ quan điều tra khám xét thu giữ 336 viên hạt nổ và 520 gam thuốc nổ). Ngoài ra, cùng thời điểm trên T1 cũng được Trần Văn D liên hệ đặt chế tạo vỏ hạt nổ bán cho D để D bán lại cho những đối tượng khác với giá 900.000đ/01 vạn (Chín trăm nghìn đồng/10.000 vỏ) vỏ hạt nổ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá quyết định:

Bị cáo Kiều Thanh T và Nguyễn Đình T1 phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”.

  • Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5, Điều 305; điểm o, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kiều Thanh T. Xử phạt: Bị cáo Kiều Thanh T 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2023 đến ngày 18/4/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Kiều Thanh T 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

  • Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 305; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Đình T1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T1 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/4/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình T1 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt của các bị cáo Phạm Văn Đ, Trần Văn D, Nguyễn Quý T6; xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/3/2024, bị cáo Kiều Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 29/3/2024, bị cáo Nguyễn Đình T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Kiều Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt có nêu do bị bệnh nền tim mạch, huyết áp và nhiều bệnh khác nên không tham dự phiên tòa phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Kiều Thanh T có quan điểm: Tòa cấp sơ thẩm việc án sơ thẩm tình tiết định khung hình phạt với số lượng đặc biệt lớn quy định tại điểm b khoản 4 Điều 305 là chưa chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm o, điểm s, điểm v, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đình T1 rút toàn bộ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đình T1 rút toàn bộ kháng cáo, căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo T1. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Kiều Thanh T, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, việc án sơ thẩm tuyên về tội danh, áp dụng hình phạt về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 305 Bộ luật Hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Kiều Thanh T 15 năm 06 tháng tù là chính xác có căn cứ phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm đúng quy định của pháp luật, căn cứ các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, được chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đình T1 rút toàn bộ kháng cáo, căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đình T1. Bản án sơ thẩm số 50/2024/HSST của Tòa án nhân tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với bị cáo T1 có hiệu lực kể từ ngày 30/8/2024.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Kiều Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, như biên bản khám xét; kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Kiều T đã có hành vi chế tạo, tàng trữ 138.648 (Một trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám) viên hạt nổ; tàng trữ 198g (một trăm chín mươi tám gam) thuốc nổ Nitroglycerin (NG) - thuộc nhóm vật liệu nổ. Trong đó đối với số hạt nổ bị cáo đã chế tạo, khi vụ án bị phát hiện, bị cáo đang tàng trữ tại nhà 123.120 (Một trăm hai ba nghìn một trăm hai mươi) viên hạt nổ, đã bán cho bị cáo Phạm Văn Đ 15.162 (Mười lăm nghìn một trăm sáu mươi hai) viên hạt nổ và bán cho bị cáo Nguyễn Đình T1 366 (Ba trăm sáu mươi sáu) viên hạt nổ.

Bởi vậy bị cáo Kiều Thanh T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 305 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định, bị cáo không bị oan.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Kiều Thanh T, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Kiều Thanh T, có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn kháng cáo bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt nêu các lý do như bị cáo tuổi cao bị mắc nhiều bệnh tật, bản thân và gia đình có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy tất cả các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này của bị cáo đã được cấp sơ thẩm áp dụng để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình nào để Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo Kiều Thanh T, là Đặc biệt nguy hiểm cho xã hội và đặc biệt nghiêm trọng, vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn diễn ra trong một thời gian dài (từ năm 2018 đến khi bị phát hiện vào tháng 4/2023).

Hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng mua bán các vật liệu nổ dưới bất cứ hình thức nào khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo có thể gây nguy hại đến an ninh quốc gia, đến sự an toàn của xã hội, có quy mô, số lượng vật phạm pháp đặc biệt lớn; đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng; quản lý và sử dụng vật liệu nổ của Nhà nước. Bởi vậy, Tòa cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định một mức hình phạt đối với bị cáo Kiều Thanh T như phân tích ở phần trên là có căn cứ và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Bởi vậy kháng cáo của các bị cáo không có căn cứ để chấp nhận như đại diện Viện Kiểm sát cấp cao tại Hà Nội đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Kiều Thanh T có quan điểm: Tòa cấp sơ thẩm việc án sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung hình phạt với số lượng đặc biệt lớn qui định tại điểm b khoản 4 Điều 305 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm o, điểm s, điểm v, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng quan điểm bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo T đã được Tòa án cấp sơ thẩm nhận xét, không có điểm gì mới nên không có căn cứ chấp nhận luận cứ bào chữa của Người bào chữa cho bị cáo Kiều Thanh T.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Kiều Thanh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đình T1 rút kháng cáo tại phiên tòa nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điều 342, 348, điểm a, khoản 1, Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đình T1, Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST của Tòa án nhân tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình T1 có hiệu lực kể từ ngày 30/8/2024.
  2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Kiều Thanh T, giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đối với bị cáo Kiều Thanh T, cụ thể như sau:

    Tuyên bố: Bị cáo Kiều Thanh T phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”.

    - Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5, Điều 305; điểm o, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Kiều Thanh T 15 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2023 đến ngày 18/4/2023.

    Phạt bổ sung bị cáo Kiều Thanh T 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Kiều Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đình T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • Các bị cáo (qua TTG; theo địa chỉ);
  • Lưu HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 709/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ)

  • Số bản án: 709/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger