Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 709/2024/HS-PT

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị Thiên H và các bị cáo khác. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 387/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Huỳnh Thị Thiên H, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp B, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước; nơi ở: F đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Lê Thị H1; chưa có chồng, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 08/4/2022 (có mặt).
  2. Trương Minh H2 (tên gọi khác: T), sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 2 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (đã bị xóa hộ khẩu); nơi ở: 1 H, tổ A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thiên P và bà Nguyễn Thị H3; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 470/QĐ-TA ngày 11/6/2020 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 19 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đến ngày 22/7/2021 chấp hành xong; nhân thân:
    • + Ngày 25/8/1993, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị áp dụng biện pháp cưỡng bức lao động sau đó trốn trường;
    • + Ngày 06/01/1995, bị Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Gây rối trật tự cộng cộng”, xác minh không có thông tin, tài liệu;
    • + Tại Bản án số 535/HSST ngày 25/12/1996 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, đến ngày 09/4/1997 chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí HSST;
    • + Ngày 16/5/1997, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”, xác minh không có thông tin, tài liệu;
    • + Tại Bản án số 107/HS ngày 17/3/1998 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, đến ngày 23/12/1999 chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí HSST;
    • + Tại Bản án số 1556/HSST ngày 05/6/2000 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, đến ngày 06/8/2003 chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí HSST;
    • + Tại Bản án số 563/2006/HSST ngày 04/5/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 13/7/2009 chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp tiền án phí HSST;
    • + Ngày 11/12/2015, bị Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang tạm giữ 09 ngày, sau đó ra Quyết định trả tự do không xử lý hình sự do không đủ căn cứ;
    Bị tạm giam từ ngày 08/4/2022, bị cáo có mặt.
  3. Nguyễn Đăng P1, sinh năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: E T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Đặng Thị B; có vợ và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 08/4/2022 (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Thiên H: Luật sư Phạm Đoàn Thanh D, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Minh H2: Luật sư Đỗ Hải B1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng P1: Luật sư Nguyễn Văn T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt

(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Trần Đức H5 nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Toà không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/4/2022, tại trước nhà số F Q, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Thành phố H phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C04) - Bộ C1; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an huyện H, Quận A, Quận G; Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện Trương Minh H2 đang điều khiển xe mô tô biển số 50Y1 - 073.18 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, thu giữ bên trong cốp xe mô tô H2 điều khiển có 01 một túi nylon màu đỏ, bên trong có: 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật màu xanh lá cây đựng 02 bịch nylon màu xanh-vàng, bên ngoài in chữ GUANYINWANG, bên trong mỗi bịch chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1.999,50 gam, loại Methamphetamine; 01 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4949 gam, loại Methamphetamine nên Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Minh H2 (bút lục số 88-90). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H2 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn C; 01 bóp da màu nâu; 01 thẻ ATM của ngân hàng V1 mang tên Tang Minh D1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 01 hợp đồng thuê nhà viết tay đề ngày 09/01/2022 thể hiện bà Nguyễn Khuyên V cho Mai Văn C thuê nhà số D H, T, Quận A và 01 xe mô tô biển số 50Y1 - 073.18.

Mở rộng điều tra, lúc 15 giờ 00 phút cùng ngày, tổ công tác phối hợp với Công an xã T, huyện H tiến hành kiểm tra hành chính nhà số E ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm kiểm tra, trong nhà có mặt của Nguyễn Đăng P1 và Trần Đức H5. Qua kiểm tra, Nguyễn Đăng P1 khai nhận có sử dụng ma tuý (M) và vào phòng lấy ra 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,1956 gam, loại Methamphetamine giao nộp nên tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P1 (bút lục số 122-124). Ngoài ra, còn thu giữ của P1 20.000.000 đồng tiền Việt Nam; 02 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Iphone. Thu giữ của H5 01 điện thoại di động hiệu ViVo; 01 điện thoại di động hiệu Nokia; 01 ô tô hiệu Huyundai, biển số 61A-695.40 và 3.000.000 đồng tiền Việt Nam. Đồng thời qua truy xét, tổ công tác mời đối tượng Nguyễn Hùng P2 (sinh năm 1987; nơi thường trú: E ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: nhà không số, Tổ G, Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) về trụ sở làm rõ mối quan hệ với Trần Đức H5, Nguyễn Đăng P1 và Trương Minh H2.

Trần Đức H5 khai nhận còn cất giấu ma tuý tại nhà số F Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 08/4/2022, Tổ công tác phối hợp với Công an P3, quận G áp giải Trần Đức H5 đến căn nhà nêu trên để tiến hành kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra, trong nhà có mặt của Huỳnh Thị Thiên H, qua kiểm tra, H tự nguyện lấy từ sọt rác lầu 1 ra 01 gói nylon chứa tinh thể không màu giao nộp, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4802 gam, loại Methamphetamine. H và H5 khai nhận đây là ma tuý “đá” của H5 cất giấu tại chỗ ở để cùng sử dụng nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và H5 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (bút lục số 162-164). Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bút lục số 165).

Đến 00 giờ 05 phút ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đức H5 và Huỳnh Thị Thiên H tại nhà số F Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện, thu giữ: dưới hộc bàn màu xanh cạnh nơi ngủ của Trần Đức H5 và Huỳnh Thị Thiên H ở lầu 1 có: 01 hộp giấy màu trắng đựng 01 cân điện tử và 01 gói nylon in chữ “Skittles”, bên trong chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 49,4248 gam, loại Methamphetamine; 01 hộp giấy bên trong đựng 01 lọ thuỷ tinh chứa 08 viên nén màu vàng, kết quả giám định không tìm thấy ma túy; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Huỳnh Thị Thiên H; 01 điện thoại di động hiệu Nokia; 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 21.000.000 đồng tiền Việt Nam (bút lục số 178-179).

Lúc 00 giờ 10 phút ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Minh H2 tại nhà số D H, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện, thu giữ: trong ngăn kéo dưới cùng trong tủ nhựa bên trái từ cửa chính đi vào có: 03 bịch nylon màu đen, mỗi bịch đều đựng 01 bịch nylon màu vàng in chữ GUANYINWANG, bên trong chứa tinh thể không màu; kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2997,23 gam, loại Methamphetamine; 01 máy ép điện túi nylon. Trong thùng carton có kích thước 60 x 40 x 40 cm để cạnh vách tường bên trái từ cửa chính đi vào có: 01 bịch nylon màu đen đựng: 01 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 473,39 gam, loại hỗn hợp Methamphetamine và Ketamine; 01 bịch nylon màu trắng chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 80,4401 gam, loại Methamphetamine; 50 bịch nylon màu trắng không chứa gì. Dưới kệ bếp có: 01 bình hút bằng thủy tinh; 01 máy bên trong có lưỡi dao và chất bột màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 43,6854 gam, loại hỗn hợp Methamphetamine và MDMA; 01 cân tiểu ly hiệu Marllone; 01 bịch nylon màu trắng chứa lá khô được xay nhuyễn, kết quả giám định có khối lượng 10,6040 gam, là Cần sa; 01 bịch nylon chứa nhiều viên nén hình tròn màu cam, kết quả giám định không tìm thấy ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe máy biển số 54P6 - 2578 và một số quần áo cá nhân (bút lục số 109-110).

Lúc 00 giờ 30 phút ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đăng P1 tại nhà số E ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ: 01 chai nước bằng nhựa có gắn ống hút và nỏ thủy tinh; 01 nỏ thủy tinh; 01 ống hút nhựa; 01 hộp quẹt gas (bút lục số 133-134).

Lúc 01 giờ 00 phút ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hùng P2 tại nhà không số, Tổ G, Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án (bút lục số 245-246).

Lúc 02 giờ 00 phút ngày 09/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Thị Thiên H tại nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án (bút lục số 175-176).

Tất cả vật chứng là ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại các bản Kết luận giám định số 2132, 2133, 2134/KL-KTHS ngày 15/4/2022 của Phòng K (PC09), Công an Thành phố H (bút lục số 300, 292, 267).

Quá trình điều tra các bị can khai nhận:

- Huỳnh Thị Thiên H là người nghiện ma túy. Cách ngày bị bắt khoảng 04 - 05 tháng, H chung sống như vợ chồng với Trần Đức H5 tại nhà số F Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; đối với Nguyễn Đăng P1, H quen biết được khoảng 05 năm; thông qua P1 thì H quen biết Nguyễn Hùng P2; riêng đối với Trương Minh H2 tên gọi khác là “Tí” thì H quen biết được khoảng 02 tháng.

Thông qua bạn bè H quen biết một người đàn ông tên N (không rõ lai lịch) sinh sống tại Campuchia có bán ma túy nên đã liên hệ mua ma túy của N về bán lại. H đã mua ma túy của N 02 lần, để thực hiện việc mua bán ma túy, H nói Nguyễn Đăng P1 phụ giúp thì P1 đồng ý, cụ thể như sau:

  • + Lần 1: ngày 06/4/2022, có một người bạn (không rõ lai lịch) gọi điện hỏi mua của H 01 kg ma túy Ketamine. Sau khi thỏa thuận giá bán là 500.000.000 đồng thì H liên lạc với N hỏi mua 01 kg ma túy Ketamine với giá 490.000.000 đồng và hẹn bán xong sẽ trả tiền thì N đồng ý. Sau đó, H đã chỉ đạo P1 nhận số ma túy này từ người của N đem về cất giấu rồi H tiếp tục cho P1 số điện thoại của người mua để P1 giao ma túy, H trả công cho P1 10.000.000 đồng;
  • + Lần 2: khoảng 11 giờ 00 ngày 07/4/2022, H sử dụng ứng dụng T2 tiếp tục điện thoại cho N đặt mua 02 kg ma túy “đá”, với giá 190.000.000 đồng/01 kg để khi có người hỏi mua thì bán. Sau đó, N cho người giao 02 kg ma tuý “đá” cho H thì H nhờ P1 nhận và cất giấu giúp H. Lần này, H kêu Trần Đức H5 mang 500.000.000 đồng, (trong đó: 380.000.000 đồng là tiền mua 02 kg ma túy “đá”; 120.000.000 đồng là tiền trả một phần nợ tiền mua 01 kg Ketamine lần đầu) đến nhà của P1 giao cho P1 để P1 trả cho người của N. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, P1 điện thoại báo cho H biết đã nhận 02 kg ma tuý “đá” và trả 500.000.000 đồng cho người giao ma tuý. Đến sáng ngày 08/4/2022, H điện thoại cho Trương Minh H2 nhờ H2 cất giấu giúp số ma túy trên thì H2 đồng ý, H điện thoại kêu P1 giao ma túy cho H2, H2 đang mang số ma tuý này đi cất giấu thì bị bắt quả tang như nêu trên. Lần này, H chưa trả công cho P1.

Đối với số ma túy mà Công an thu giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của HH5, H khai nhận đều là của H5 mua về sử dụng; tuy nhiên H chỉ biết và sử dụng cùng với H5 gói ma tuý bị thu giữ khi bắt quả tang, còn gói ma tuý bị thu giữ khi khám xét thì H không biết ở đâu mà H5 có và cất giấu vào lúc nào.

Đối với Nguyễn Hùng P2, H chỉ biết P2 thông qua Nguyễn Đăng P1 chứ không có mối quan hệ hệ gì với P2.

- Trần Đức H5 là người nghiện ma túy. Từ khoảng tháng 12/2021 cho đến khi bị bắt, H5 chung sống như vợ chồng với H tại nhà số F Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do H5 thuê. Thông qua H, H5 quen biết với Nguyễn Đăng P1 và thông qua P1 nên H5 biết thêm Nguyễn Hùng P2.

Vào trưa ngày 07/4/2022, H kêu H5 đem 500.000.000 đồng đến chỗ ở của P1 tại nhà số E ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để đưa cho P1. Ban đầu H5 chưa biết H nhờ H5 đưa số tiền này cho P1 với mục đích gì, H5 chỉ làm theo yêu cầu của H. Khi đến nơi, H5 gặp P2 ở nhà của P1 và H5 đưa cho P1 500.000.000 đồng. Tại đây, sau khi P1 nhận được điện thoại của một người nào đó liền kêu P2 ra ngoài đón vào. Một lúc sau, P2 đưa một người phụ nữ (không rõ lai lịch) vào phòng của P1 thì H5 thấy người phụ nữ này mang theo một túi nylon màu đỏ, bên trong có một hộp giấy hoa văn màu xanh và đưa cho P1. P1 lấy một gói nylon (dạng gói trà màu xanh) từ trong hộp giấy mở ra kiểm tra, bên trong gói trà có một gói nylon chứa tinh thể không màu thì lúc này H5 biết là ma túy “đá” và số tiền 500.000.000 đồng mà H kêu H5 đưa cho P1 là tiền để mua ma tuý. Sau đó, P1 nói thử chất lượng ma túy nên H5 dùng kéo đục 01 lỗ nhỏ rồi lấy ống hút chọc vào lấy ra một ít ma tuý cho vào nỏ thuỷ tinh và đưa cho P1 để kiểm tra chất lượng, còn gói ma tuý thì H5 đưa lại cho P2 cất vào hộp giấy màu xanh để trong túi nylon màu đỏ rồi H5, P2 cùng với P1 sử dụng số ma tuý mà H5 vừa lấy ra. Sau khi sử dụng thì H5 nghe P1 nói ma tuý chất lượng tốt và đưa 500.000.000 đồng cho người phụ nữ rồi P1 kêu P2 dẫn người này ra ngoài, sau đó thì H5 cũng ra về.

Đến chiều ngày 08/4/2022, H kêu H5 đến nhà của P1 để chở P1 đi quận G dùm cho H, H không nói rõ mục đích để làm gì. Khi H5 vừa đến chỗ ở của P1 thì Công an đến kiểm tra hành chính, phát hiện ma túy và bắt giữ P1 như trên.

Riêng số ma túy mà Công an thu giữ khi bắt quả tang và khám xét tại chỗ ở của H5 và H là do H5 nhờ H mua giùm vào ngày 06/4/2022, H đồng ý. Đến ngày 07/4/2022, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến giao một gói ma túy “đá” cho H5 thì H5 lấy ra 01 ít cho vào 01 gói nylon nhỏ để sử dụng cùng với H nhưng chưa sử dụng hết thì bị thu giữ khi bắt quả tang; số ma tuý còn lại trong gói nylon lớn, H5 cất giấu dưới hộc bàn màu xanh trong phòng ngủ lầu 1 nhưng không cho H biết cũng bị thu giữ khi khám xét.

- Nguyễn Đăng P1 là người nghiện ma túy, khai nhận phù hợp với H, H5 và P2 về mối quan hệ quen biết. Quá trình quen biết, P1 cùng H, H5 và P2 nhiều lần sử dụng ma túy cùng nhau, P1 biết H có hoạt động mua bán trái phép ma túy. Sau đó, H đề nghị P1 phụ giúp mua bán ma túy thì P1 đồng ý. Vào trưa ngày 07/4/2022, khi P1 đang uống cà phê cùng với P2 thì H điện thoại cho P1 kêu nhận giúp H 02 kg ma túy “đá” và H5 sẽ đem tiền mua ma túy đưa cho P1. Sau khi H5 mang tiền đến chỗ ở của P1 thì có người điện thoại kêu P1 ra ngã tư T, huyện H đón vào để giao ma túy, lúc này P2 cũng có mặt tại phòng của P1 nên P1 nhờ P2 đi đón người này nhưng không nói cho P2 biết mục đích làm gì. Khi P2 ra ngoài, H5 đưa cho P1 số tiền 500.000.000 đồng để mua 02 kg ma túy “đá” cho H. Một lúc sau, P2 dẫn một người phụ nữ (không rõ lai lịch) vào phòng ngủ của P1. Tại đây, người này giao cho P1 một túi nylon màu đỏ, bên trong có 01 hộp giấy hoa văn màu xanh, bên trong hộp giấy có 02 gói nylon dạng gói trà màu xanh chứa ma túy “đá” (02 kg); để kiểm tra chất lượng ma túy vừa nhận, P1 kêu H5 dùng kéo chọc một lỗ nhỏ lấy một ít ma túy trong gói nylon bỏ vào nỏ đưa cho P1 rồi P1, H5 và P2 cùng sử dụng số ma túy này. Sau khi kiểm tra chất lượng ma túy, H5 đưa lại gói ma túy cho P2 rồi P2 bỏ gói ma túy vào trong hộp giấy và cho vào một bịch nylon màu đỏ, còn P1 gọi điện thoại báo cho H về chất lượng ma túy thì H đồng ý mua nên P1 lấy 500.000.000 đồng mà H5 đưa trả cho người phụ nữ này. Sau đó, P1 nhờ P2 đưa người phụ nữ này ra ngoài, H5 cũng đi về và P1 đem cất giấu 02 kg ma túy “đá” trong phòng, đến trưa ngày 08/4/2022, H điện thoại cho P1 nói sẽ có người liên lạc với P1 để nhận 02 kg ma túy nêu trên thì P1 đồng ý. Sau đó, P1 đã giao túi nylon màu đỏ đựng hộp giấy chứa 02 kg ma túy “đá” cho Trương Minh H2.

Đối với số ma túy 01 kg Ketamine, H khai Phương phụ giúp nhận, cất giấu và giao cho người mua của H vào ngày 06/4/2022 thì P1 không khai nhận, chỉ có lời khai của H.

Riêng gói ma túy cất giấu tại chỗ ở là của P1 mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) ở khu vực ngã tư A, Quận A, với giá 500.000 đồng đem về sử dụng nhưng chưa hết thì bị bắt quả tang.

- Trương Minh H2 không khai nhận hành vi phạm tội từ khi bị bắt cho đến nay, chỉ khai nhận giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Mai Văn C là do H2 đặt mua của một người tên S (không rõ lai lịch) với giá 1.500.000 đồng qua ứng dụng Zalo và H2 sử dụng chứng minh nhân dân này để thuê căn nhà số D H, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của chị Nguyễn Khuyên V (sinh năm 1985; nơi thường trú: A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngoài ra, Trương Minh H2 không hợp tác khai báo về hành vi phạm tội cũng như không khai báo về số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của H2.

Chị Nguyễn Khuyên V là chủ căn nhà số D H, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: từ ngày 09/01/2022, chị V cho một người đàn ông tên Mai Văn C sử dụng chứng minh nhân dân số [...] thuê căn nhà trên với giá 3.500.000 đồng/tháng (có lập hợp đồng cho thuê) để cất giấu ma túy (Công an khám xét thu giữ được ma túy). Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, chị V nhận dạng được Trương Minh H2 chính là người sử dụng chứng minh nhân dân tên Mai Văn C thuê và ở tại căn nhà này, chị V không biết gì về hành vi cất giấu ma túy của H2.

- Nguyễn Hùng P2 là đối tượng nghiện ma túy, khai nhận phù hợp với Nguyễn Đăng P1, Huỳnh Thị Thiên HTrần Đức H5 về mối quan hệ quen biết. Quá trình quen biết, H có đề nghị P2 phụ giúp H cất giấu ma túy tại chỗ ở của P2 nhưng P2 không đồng ý. Vào ngày 07/4/2022, P2 đến chỗ ở của P1 chơi thì thấy P1 đang ở cùng một người đàn ông (không rõ lai lịch). Lúc này, P2 rủ P1 đi đá gà nhưng P1 không đi nên P2 ra về. Đến khoảng 12 giờ 00 ngày 08/4/2022, khi P2 đang ngồi uống cà phê tại quán C2, địa chỉ I T 10, xã T, huyện H thì P1 đi bộ đến trước cửa quán (nhà của P1 đối diện quán) nói với P2 “nhờ em ra đưa dùm cho bạn anh phần quà do anh không có xe”. P2 đồng ý điều khiển xe gắn máy qua nhà P1, khi P2 đến trước cửa thì P1 đem từ trong nhà ra 01 túi nylon màu đỏ đựng một hộp giấy hoa văn màu xanh đưa cho P2 và nói P2 đem ra ngã tư T (G đường Đ - Trịnh Thị M1) huyện H đưa cho người bạn của P1 đi xe gắn máy tay ga màu đen. P2 không kiểm tra bên trong chứa gì và treo túi nylon màu đỏ đựng hộp giấy hoa văn màu xanh trên baga xe gắn máy rồi điều khiển đến ngã tư T nhưng không gặp bạn của P1 nên quay về nhà của P1 thì P1 tiếp tục nhờ P2 giúp và cho P2 số điện thoại 0904.692.xxx của bạn P1 để P2 liên lạc. Sau đó, P2 liên lạc với số điện thoại trên thì bạn của P1 kêu đến trước địa chỉ A T, xã T, huyện H. P2 đến điểm hẹn gặp và giao túi nylon màu đỏ đựng hộp giấy hoa văn màu xanh cho người thanh niên rồi đi về nhà. Khi P2 vừa về nhà thì có khách gọi hẹn đến quán cà phê Mai H6 hỏi mua gà đá của P2. Khi đến trước quán, P2 thấy xe ô tô của H5 đậu trước cửa nhà của P1 và P2 vừa bước vào trong thì nghe tiếng ồn ào nên P2 quay lại nhìn thấy có công an kiểm tra nhà của P1, khoảng 05 phút sau P2 cũng bị công an mời về trụ sở làm việc. Lúc này, P2 mới biết người thanh niên nhận túi quà màu đỏ do P1 nhờ P2 đưa tên là Trương Minh H2. Việc P2 giúp P1 giao túi quà cho Trương Minh H2 không được P1 trả công, P2 không biết bên trong túi quà của P1 nhờ giao cho Trương Minh H2 có chứa gì và cũng không biết P1 hoạt động mua bán trái phép ma túy.

Căn cứ kết quả điều tra, hiện chỉ có lời khai của H6 yêu cầu Phong cất giữ ma túy nhưng P2 không đồng ý. Lời khai của P1 nhờ P2 đi đưa túi nylon chứa ma túy cho H2 nhưng không nói cho P2 biết là ma túy và H2 là người nhận túi nylon chứa ma túy từ P2 hiện không khai nhận, không hợp tác làm việc với Cơ quan điều tra. Đồng thời, lời khai của P2 không biết việc P1 hoạt động mua bán ma túy. Ngoài ra, Cơ quan điều tra chưa thu thập được thêm các chứng cứ khác liên quan đến P2 nên chưa đủ cơ sở để xử lý Nguyễn Hùng P2 về hành vi đồng phạm “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm P2 dương tính với ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H đã bàn giao P2 cho Công an xã T, huyện H xử lý theo quy định.

Đối với đối tượng tên N bán ma túy cho H6; đối tượng giao ma túy; đối tượng mua ma túy của H6, do các bị can H6, P1 khai không rõ về nhân thân, lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở điều tra, xác minh làm rõ để xử lý.

Vật chứng vụ án: theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2023/291 ngày 17/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số 313/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 01/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị can (có lý lịch) và hành vi phạm tội nêu trên:

  • - Huỳnh Thị Thiên HNguyễn Đăng P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Trần Đức H5 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 và điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Trương Minh H2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”; tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 4 Điều 250; điểm h khoản 4 Điều 249 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Căn cứ điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thiên H tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tử hình.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo H 35.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  3. Căn cứ điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P1 tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tù chung thân.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2022.

    Phạt bổ sung bị cáo P1 30.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  5. Căn cứ điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 250, điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 249, khoản 1 Điều 341, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. Xử phạt bị cáo Trương Minh H2 (tên gọi khác: T) tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tử hình.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo H2 50.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Đức H5 tù chung thân; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 21/01/2024 bị cáo Trương Minh H2 có đơn kháng cáo với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm các tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là không đúng, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại.

Ngày 23/01/2024, bị cáo Huỳnh Thị Thiên H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án tử hình đối với bị cáo là quá nặng.

Ngày 30/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-P1 với nội dung: bị cáo Nguyễn Đăng P1 là đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo Huỳnh Thị Thiên H nên mức án tù chung thân đối với bị cáo là quá nhẹ, do đó kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đăng P1. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đăng P1 tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Huỳnh Thị Thiên H, Nguyễn Đăng P1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Bị cáo H chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì mức án tử hình là quá nặng vì quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là mẹ đơn thân hiện đang trực tiếp nuôi 03 con nhỏ sinh năm 2009, 2015 và 2016 (có xác nhận của chính quyền địa phương). Ngoài ra mẹ ruột và chị ruột của bị cáo đều là người khuyết tật (có y chứng, giấy xác nhận khuyết tật). Bị cáo P1 thừa nhận việc giúp sức cho H mua bán ma túy nên mức án tù chung thân với bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên mức án tù chung thân đối với bị cáo.

Riêng bị cáo Trương Minh H2 giữ nguyên nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là không đúng nên đề nghị xét xử lại vì quá trình thu giữ ma túy là có dấu hiệu bị đánh tráo bị cáo không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa thì có đủ cơ sở kết luận các bị cáo H, P1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Khối lượng ma túy các bị cáo mua bán là rất lớn, hơn 2 kg. Bị cáo H có vai trò cầm đầu, điều hành, chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện tội phạm nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án tử hình là thỏa đáng nên đề nghị bác kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Bị cáo H2 có nhân thân xấu nhiều lần bị xử phạt tù nhưng khi ra trại lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển và tàng trữ là rất lớn, quá trình điều tra bị cáo quanh co, không thành khẩn, là kẻ khó giáo dục, cải tạo vì vậy đề nghị bác kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên mức án tử hình đối với bị cáo.

Đối với bị cáo P1 là kẻ có vai trò giúp sức tích cực là người trực tiếp giao nhận tiền và giao nhận ma túy nên mức án tù chung thân là nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thánh phố Hồ Chí Minh tăng hình phạt lên tử hình đối với bị cáo P1.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:

Luật sư D phát biểu: Thống nhất về tội danh như án sơ thẩm tuyên, tuy nhiên không đồng ý quan điểm của đại diện viện kiểm sát xác định bị cáo H có vai trò cầm đầu vì trong vụ án này là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng bàn bạc với nhau, cùng thực hiện, có lợi thì cùng chia nên vai trò là ngang nhau. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có tình tiết mới là hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo nuôi 3 con nhỏ và có mẹ ruột, chị ruột bị khuyết tật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Luật sư T1 phát biểu: Thống nhất về tội danh như án sơ thẩm tuyên và mức án tù chung thân về tội “mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo P1 là phù hợp vì bị cáo chỉ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức đi giao ma túy. Cơ quan tố tụng đã không bắt được quả tang ma túy và việc mua bán ma túy chỉ có lời khai của các bị cáo nên cũng cần xem xét. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên mức án tù chung thân đối với bị cáo.

Luật sư B1 phát biểu: Quá trình điều tra thì bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra chưa làm rõ khối lượng ma túy ở nhà bị cáo nên cần xem xét lại. Việc bị cáo vận chuyển ma tuý và bị bắt quả tang cũng cần xem xét lại vì như lời khai của bị cáo H là nhờ bị cáo cất giấu ma túy. Như vậy cần nhập hai khối lượng ma túy bị bắt quả tang và khám xét tại nhà để xử lý bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, việc cơ quan tố tụng tách ra thành hai tội đối với bị cáo là bất lợi, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng hủy Bản án sơ thẩm để xem xét lại tội danh đối với bị cáo H2.

Bị cáo H và bị cáo P1 thống nhất với bài bào chữa cửa luật sư, bị cáo không bổ sung gì thêm. Bị cáo H2 không đồng ý phần bào chữa của luật sư.

Bị cáo H, P1 nói lời nói sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hìnnh phạt cho bị cáo.

Bị cáo H2 vẫn cho rằng bị oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Huỳnh Thị Thiên H, Nguyễn Đăng P1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận của các bị cáo là thống nhất với nhau, thống nhất với lời khai của bị cáo Trần Đức H5 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, biên bản nhận dạng, dữ liệu điện tử trích xuất từ các điện thoại di động của các bị cáo, lời khai của người làm chứng, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra đã xác định được: Huỳnh Thị Thiên H mua ma túy của đối tượng tên N (không rõ lai lịch) để bán lại cho người khác. Ngày 07/4/2022, bị cáo H đặt mua của đối tượng tên Nam số lượng ma túy là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine, bị cáo P1 là người nhận ma túy, bị cáo H đưa số tiền 500.000.000 đồng cho bị cáo H5 đem qua nhà bị cáo P1 tại địa chỉ: E ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để trả tiền mua ma túy cho người của đối tượng tên N. Sau đó, theo yêu cầu của bị cáo H, bị cáo P1 đưa cho Nguyễn Hùng P2 liên hệ giao ma túy cho bị cáo H2 cất giấu. Ngày 08/4/2022, bị cáo H2 đang trên đường vận chuyển số ma túy này thì bị bắt quả tang tại trước nhà số F Q, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Mở rộng điều tra còn xác định được:

  • - Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo H2 tại địa chỉ: 4 H, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ: 3.077,6701 gam loại Methamphetamine; 473,39 gam hỗn hợp loại Methamphetamine và Ketamine; 43,6854 gam hỗn hợp loại Methamphetamine và MDMA; 10,6040 gam loại Cần sa nhưng bị cáo H2 không khai rõ nguồn gốc, mục đích cất giấu số ma túy này. Đồng thời, bị cáo H2 còn mua Chứng minh nhân dân giả sử dụng để làm hợp đồng thuê căn nhà của chị Nguyễn Khuyên V để cất giấu ma túy.
  • - Các bị cáo H, P1, H5 cất giấu ma túy để sử dụng cũng bị bắt quả tang vào ngày 08/4/2022, trong đó bị cáo H cất giấu 0,4802 gam loại Methamphetamine; bị cáo P1 cất giấu 2,1956 gam loại Methamphetamine; bị cáo H5 cất giấu 49,905 gam loại Methamphetamine;

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm vào hoạt động quản lý độc quyền của Nhà N1 về cất giữ, vận chuyển, trao đổi các chất ma túy, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của nhà nước, ngoài ra còn gây mất trật tự trị an xã hội.

[4] Hành vi của các bị cáo H, P1H5 đã đủ yếu tội cấu thành tội "mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong đó bị cáo Huỳnh Thị Thiên H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy ở thể rắn do bắt quả tang của bị cáo H2 khi đang vận chuyển là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán và tàng trữ khối lượng ma túy ở thể rắn bị bắt quả tang là 0,4802 gam loại Methamphetamine để sử dụng; Bị cáo Nguyễn Đăng P1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tham gia giúp cho bị cáo H mua bán khối lượng ma túy ở thể rắn khi bắt quả tang bị cáo H2 là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine và tàng trữ khối lượng ma túy ở thể rắn bị bắt quả tang là 2,1956 gam loại Methamphetamine để sử dụng; Bị cáo Trần Đức H5 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tham gia giúp cho bị cáo H mua bán khối lượng ma túy ở thể rắn do bắt quả tang bị cáo H2 là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine và tàng trữ khối lượng ma túy ở thể rắn bị bắt quả tang là 49,905 gam loại Methamphetamine để sử dụng.

[4.1] Với khối lượng ma túy mà các bị cáo mua bán và tàng trữ như nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ Hình sự đối với cả 3 bị cáo H, H5P1; điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H5; điểm c khoản 1 Điều 249 đối với bị cáo H, P1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4.2] Hành vi của bị cáo Trương Minh H2 đã đủ yếu tố cấu thành các tội “vận chuyển trái phép chất ma túy” “tàng trữ trái phép chất ma túy” và “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do khối lương ma túy bị cáo Trương Minh H2 vận chuyển bị bắt quả tang là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine và tàng trữ khối lượng ma túy ở thể rắn thu giữ khi khám xét là 3.077,6701 gam loại Methamphetamine; 473,39 gam hỗn hợp loại Methamphetamine và Ketamine; 43,6854 gam hỗn hợp loại Methamphetamine và MDMA; 10,6040 gam loại Cần sa; sử dụng Chứng minh nhân dân giả để thuê nhà cất giấu ma túy. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dùng tình tiết định khing tăng nặng theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự; điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Minh H2 cho rằng không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thấy rằng: Quá trình điều tra bị cáo luôn chống đối, quanh co không khai báo, cho rằng bị ép cung, dùng nhục hình. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm rõ nhưng không có căn cứ để xác định bị cáo bị ép cung, nhục hình. Mặc dù bị cáo quanh co, chống đối không khai báo nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, biên bản khám xét chỗ ở của bị cáo và lời khai của bị cáo H, P1 và đối tượng P2 có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như án sơ thẩm mô tả.

[5.1] Bị cáo H2 có nhân thân xấu, có 01 tiền sự và từ năm 1993 đến 1998 bị cáo liên tục phạm tội, bị xét xử tù giam, có một thời gian dài sống trong trại cải tạo, dưới sự quản lý, giáo dục của nhà nước nhưng sau khi ra tại bị cáo tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, cùng một lúc phạm nhiều tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là kẻ khó giáo dục cải tạo, căn cứ khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine và đánh giá về nhân thân của bị cáo như trên nên Tòa án cấp sơ thẩm loại bỏ vĩnh viễn bị cáo khỏi đời sống xã hội là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên mức án tử hình về tội “vận chuyển trái phép chất ma túy”.

[6] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị Thiên H: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tai phiên tòa phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là mẹ đơn thân hiên đang trực tiếp nuôi 03 con nhỏ sinh năm 2009, 2015 và 2016 (có xác nhận của chính quyền địa phương ), đã đóng phạt bổ sung 35.000.000 đồng. Ngoài ra mẹ ruột và chị ruột của bị cáo đều là người khuyết tật (có y chứng, giấy xác nhận khuyết tật) nhưng xét bị cáo có vai trò cao hơn các bị cáo khác và khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 2.001,9949 gam loại Methamphetamine nên mức Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án tử hình là có căn cứ, vì vậy không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng hình phạt bị cáo P1 từ chung thân lên tử hình: Bị cáo P1 không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo chưa chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo tham gia trong vụ an với vai trò giúp sức. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử bác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên mức án tù chung thân đối với bị cáo P1.

[8] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo H, bị cáo H2 là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bị cáo H, H2, giữ nguyên mức hình phạt tử hình đối với các bị cáo này là có căn cứ, được chấp nhận, còn quan điểm đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[10] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo H, H2 phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo P1 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[11] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kề từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị Thiên HTrương Minh H2.

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Thị Thiên H, Trương Minh H2Nguyễn Đăng P1.

  1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thiên H tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tử hình.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250, điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 249, khoản 1 Điều 341, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  4. Xử phạt bị cáo Trương Minh H2 (tên gọi khác: T) tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tử hình.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  5. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P1 tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt tù chung là tù chung thân.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2022.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Huỳnh Thị Thiên H, Trương Minh H2 được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

4. Án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Thiên HTrương Minh H2 phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Đăng P1 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND TPHCM (2);
  • - VKSND TPHCM (1);
  • - Cục THADS TPHCM (1);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1);
  • - Công an TPHCM (1);
  • - Trại tạm giam Công an TPHCM(2);
  • - Lưu VP(3), HS(2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

19

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 709/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 709/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán, Tàng trữ, Vận chuyển trái phép chất ma túy và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger